Tư duy và lý luận của Đảng về đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên mới - Cơ sở lý luận cho sự phát triển của Vietcombank
Bài viết phân tích tư duy, quan điểm của Đảng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong kỷ nguyên mới; làm rõ ý nghĩa định hướng đối với ngành ngân hàng; khảo sát việc vận dụng tại Vietcombank trên các phương diện nhận thức và quản trị, ngân hàng số, sản phẩm – mô hình kinh doanh, kiểm soát rủi ro, nhân lực và văn hóa đổi mới. Trên cơ sở Nghị quyết số 57-NQ/TW, Văn kiện Đại hội XIV, các văn bản pháp luật mới và công bố của Vietcombank, bài viết cho thấy đổi mới sáng tạo đã trở thành một thành tố của năng lực cạnh tranh và chất lượng phục vụ. Đồng thời, hiệu quả đổi mới cần được nhìn nhận qua khả năng tạo giá trị thực, mức độ an toàn, sự tin cậy và tính bao trùm, chứ không chỉ qua quy mô đầu tư công nghệ hay số lượng tiện ích số.
1. Mở đầu
Đổi mới sáng tạo ngày càng quyết định năng suất, chất lượng tăng trưởng và khả năng cạnh tranh. Trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, điện toán đám mây, tự động hóa và nền tảng số đang thay đổi cách doanh nghiệp tổ chức hoạt động, kết nối khách hàng và phân bổ nguồn lực. Trong ngân hàng, tác động hiện diện từ giao dịch, thanh toán, thẩm định tín dụng đến quản trị rủi ro và chăm sóc khách hàng. Công nghệ vì vậy đã trở thành một phần của năng lực cốt lõi, không chỉ là công cụ hỗ trợ.
Tư duy lý luận của Đảng đã chuyển từ nhấn mạnh vai trò khoa học – công nghệ trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến tích hợp khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thành động lực chính của phát triển. Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định đây là “đột phá quan trọng hàng đầu”, đặt con người và doanh nghiệp ở vị trí trung tâm, yêu cầu thể chế đi trước, dữ liệu và hạ tầng số trở thành nguồn lực, an ninh mạng và an toàn thông tin là yêu cầu xuyên suốt (Bộ Chính trị, 2024, tr. 2–5). Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã chỉ ra “Xác định mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trong tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số. (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 91).
Ngân hàng vừa chịu tác động trực tiếp của công nghệ, vừa cung cấp vốn, thanh toán và dịch vụ tài chính cho nền kinh tế. Vietcombank có quy mô và nền tảng khách hàng thuận lợi để dẫn dắt đổi mới, đồng thời phải đáp ứng yêu cầu cao về tin cậy, an toàn và trách nhiệm. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, ý nghĩa tư duy lý luận của Đảng về đổi mới sáng tạo số đối với Vietcombank và giải pháp để đổi mới tạo kết quả đo lường được về hiệu quả, chất lượng phục vụ và khả năng chống chịu.
![]() |
| Vietcombank thực hiện học tập, quán triệt Nghị quyết của Bộ chính trị (nguồn: vietcombank.com.vn) |
2. Nội Dung
2.1.Đổi mới sáng tạo là yêu cầu khách quan của quá trình phát triển
Đổi mới sáng tạo nảy sinh từ yêu cầu giải quyết những vấn đề mới của thực tiễn. Khi phương thức cũ không còn đáp ứng kỳ vọng khách hàng, năng suất, cạnh tranh hoặc quản trị rủi ro, tổ chức phải đổi mới sáng tạo cách làm cũ. Với ngân hàng, áp lực đến từ giao dịch tức thời, cá nhân hóa dịch vụ, cạnh tranh của fintech, gian lận trực tuyến và sự dịch chuyển của hoạt động kinh tế lên môi trường số.
Vốn, lao động và tài nguyên vẫn quan trọng, nhưng tăng trưởng dài hạn ngày càng phụ thuộc vào tri thức, công nghệ, dữ liệu, năng lực tổ chức và chất lượng nguồn nhân lực. Đổi mới sáng tạo là quá trình hình thành, thử nghiệm và ứng dụng ý tưởng, công nghệ, sản phẩm, quy trình hoặc mô hình mới để tạo giá trị nhận biết được. Trong ngân hàng, giá trị có thể là thời gian xử lý và chi phí thấp hơn, quyết định tín dụng chính xác hơn, phát hiện gian lận tốt hơn hoặc khả năng tiếp cận dịch vụ rộng hơn.
Chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo liên quan nhưng không đồng nhất. Số hóa quy trình mà vẫn giữ các bước phê duyệt rườm rà, dữ liệu phân mảnh và cách đánh giá cũ có thể làm tăng chi phí mà năng suất không tăng. Vì vậy, thước đo quan trọng là tác động đến hiệu quả, chất lượng phục vụ, tính bao trùm và khả năng chống chịu, không chỉ là số lượng ứng dụng.
Đổi mới trong ngân hàng còn phản ánh mâu thuẫn giữa yêu cầu xử lý nhanh với đòi hỏi thẩm định chắc chắn; giữa cá nhân hóa dịch vụ với bảo vệ dữ liệu; giữa mở rộng kết nối với kiểm soát rủi ro hệ thống. Các mâu thuẫn này không thể giải quyết bằng một ứng dụng riêng lẻ mà cần thay đổi đồng bộ quy trình, dữ liệu, phân quyền và năng lực nhân sự. Do đó, đổi mới sáng tạo vừa là phản ứng trước áp lực cạnh tranh, vừa là phương thức tổ chức lại hoạt động để thích ứng mà vẫn giữ nguyên tắc an toàn.
2.2. Sự phát triển trong tư duy lý luận của Đảng về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
![]() |
| Thống đốc NHNN Việt Nam Phạm Đức Ấn cùng các đại biểu thăm không gian trải nghiệm “Đường tài chính số - Phố không tiền mặt” của Vietcombank (nguồn: vietcombank.com.vn) |
Tư duy lý luận của Đảng phát triển cùng yêu cầu giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất. Trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, khoa học – công nghệ được xác định là động lực quan trọng; giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ được ưu tiên. Khi kinh tế tri thức và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển, yêu cầu mở rộng sang đổi mới sáng tạo, ứng dụng, thương mại hóa công nghệ và chuyển đổi số. Nghị quyết số 52-NQ/TW năm 2019 đặt nền tảng cho việc chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Nghị quyết số 57-NQ/TW tích hợp khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong một chỉnh thể, gắn với lực lượng sản xuất hiện đại, quan hệ sản xuất và phương thức quản trị. Nghị quyết chuyển trọng tâm sang tháo gỡ điểm nghẽn thể chế; phát triển nhân lực, hạ tầng và dữ liệu; thúc đẩy đổi mới trong doanh nghiệp; bảo đảm chủ quyền, an ninh mạng và an toàn thông tin.
Văn kiện Đại hội XIV gắn các nội dung này với mô hình phát triển mới, năng suất, năng lực cạnh tranh, tự chủ chiến lược và quản trị hiệu quả. Văn kiện nhấn mạnh hoàn thiện thể chế, tháo gỡ nút thắt, trọng dụng nhân tài, nâng cao chất lượng nhân lực, thúc đẩy chuyển đổi số gắn với chuyển đổi xanh và chuyển đổi năng lượng. Định hướng tăng liên kết doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI và nâng cấp tham gia chuỗi giá trị cho thấy đổi mới phải tạo năng lực sản xuất và giá trị mới.
Có thể khái quát bốn chuyển dịch: từ khoa học – công nghệ sang hệ sinh thái tích hợp; từ công nghệ là phương tiện sang năng lực đổi mới là trụ cột phát triển; từ Nhà nước triển khai chính sang phối hợp Nhà nước – doanh nghiệp – nhà khoa học – người dân, trong đó doanh nghiệp là trung tâm ứng dụng; và từ mở rộng ứng dụng sang yêu cầu làm chủ công nghệ, bảo vệ dữ liệu, bảo đảm an ninh và đo lường hiệu quả.
Điểm phát triển đáng chú ý là Đảng không tách đổi mới công nghệ khỏi đổi mới thể chế và phương thức quản trị. Tư duy này kế thừa quan điểm coi khoa học – công nghệ là động lực, đồng thời mở rộng sang năng lực biến tri thức thành sản phẩm, dịch vụ và năng suất; lấy doanh nghiệp làm nơi ứng dụng và thương mại hóa; coi chuyển đổi số là phương thức thay đổi tổ chức và quan hệ xã hội. Vì vậy, yêu cầu đặt ra cho một ngân hàng thương mại không chỉ là tiếp nhận công nghệ mới mà còn phải xác định công nghệ giải quyết vấn đề gì, tạo giá trị cho ai và được kiểm soát như thế nào.
2.3. Những nội dung cốt lõi trong tư duy lý luận của Đảng về đổi mới sáng tạo
Thứ nhất, đổi mới sáng tạo là động lực phát triển nhanh và bền vững khi nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng thích ứng và giá trị gia tăng. Đây là tiêu chí phân biệt đổi mới thực chất với đầu tư công nghệ thiếu mục tiêu đầu ra. Đại hội XIV của Đảng, phần định hướng phát triển đất nước nhấn mạnh: “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải thực sự trở thành động lực then chốt của tang tưởng; là nền tảng nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh; là công cụ nâng cao hiệu quả quản trị, năng lực tự chủ quốc gia; đảm bảo quốc phòng an ninh; là phương thức tạo ra các mô hình kinh doanh mới, việc làm mới, giá trị gia tăng mới”.
Thứ hai, con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực và mục tiêu. Văn kiện Đại hội XIV đã khẳng định: “Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật, năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số”. Nghị quyết 57 đặt người dân, doanh nghiệp ở vị trí trung tâm và coi nhà khoa học là nhân tố then chốt. Công nghệ phải cải thiện khả năng tiếp cận và chất lượng dịch vụ; người lao động cần được đào tạo, tham gia thiết kế thay đổi và đánh giá theo năng lực tạo giá trị.
Thứ ba, thể chế phải vừa quản lý rủi ro vừa khuyến khích thử nghiệm. Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15, hiệu lực từ 1/10/2025, tạo khuôn khổ mới cho hoạt động này. Với ngân hàng, cần quy trình thẩm định sáng kiến, thử nghiệm có kiểm soát, phân định trách nhiệm và tiêu chí mở rộng hoặc dừng dựa trên bằng chứng.
Thứ tư, doanh nghiệp là trung tâm ứng dụng và thương mại hóa. Hệ thống đổi mới cần kết nối đơn vị kinh doanh với công nghệ, dữ liệu, quản trị rủi ro và đối tác nghiên cứu. Tại Vietcombank, các đơn vị nghiệp vụ phải cùng sở hữu bài toán đổi mới, thay vì giao toàn bộ trách nhiệm cho khối công nghệ.
Thứ năm, dữ liệu, hạ tầng số và công nghệ ciến lược là nguồn lực mới. Dữ liệu ngân hàng có thể cải thiện phân tích nhu cầu, quản trị dòng tiền và phát hiện bất thường nếu được chuẩn hóa, có chất lượng và sử dụng đúng mục đích; dữ liệu sai hoặc phân tán có thể khiến AI khuếch đại sai lệch.
Thứ sáu, đổi mới phải gắn với tự chủ, an ninh và phát triển bền vững. Ngân hàng quản lý dữ liệu tài chính nhạy cảm và cung cấp hạ tầng thanh toán thiết yếu. Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15, Nghị định 356/2025/NĐ-CP và Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15 là căn cứ để xây dựng quản trị dữ liệu, AI có trách nhiệm, minh bạch và phù hợp pháp luật.
Sáu nội dung trên gắn kết thành một chỉnh thể. Con người xác định mục tiêu và thụ hưởng kết quả; doanh nghiệp tổ chức ứng dụng; thể chế xác lập không gian và giới hạn; dữ liệu, hạ tầng và công nghệ tạo năng lực thực hiện; an ninh, tự chủ và bền vững bảo đảm đổi mới phục vụ lợi ích lâu dài. Nếu thiếu một mắt xích, hiệu quả sẽ bị hạn chế: dữ liệu không chuẩn làm suy giảm chất lượng mô hình; thể chế không rõ làm người thực thi e ngại; công nghệ không gắn nhu cầu khiến đầu tư dàn trải; đổi mới thiếu kiểm soát làm tổn hại niềm tin.
2.4. Ý nghĩa của tư duy lý luận đổi mới sáng tạo của Đảng đối với ngành ngân hàng
![]() |
| Cán bộ Vietcombank hướng dẫn khách hàng thực hiện các bước xác thực thông tin cá nhân (nguồn: vietcombank.com.vn) |
Tư duy đổi mới định hướng chuyển từ vận hành chủ yếu tại quầy sang ngân hàng đa kênh, số hóa và thông minh. Điều đó không loại bỏ kênh trực tiếp: giao dịch tiêu chuẩn có thể thực hiện trên nền tảng số, còn tư vấn phức tạp và hỗ trợ nhóm ít kỹ năng số cần tương tác phù hợp.
Đổi mới thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt và tài chính toàn diện thông qua tài khoản, QR, định danh điện tử và kết nối dịch vụ. Tuy nhiên, người cao tuổi, người khuyết tật hoặc khách hàng thiếu thiết bị có thể gặp rào cản; dịch vụ số cần có hướng dẫn và hỗ trợ phù hợp cho từng đối tượng.
Dữ liệu và mô hình phân tích có thể cải thiện thẩm định tín dụng, cảnh báo sớm và phát hiện gian lận. Mặt khác, thuật toán có thể tái tạo thiên lệch, khó giải thích hoặc phát sinh rủi ro bảo mật. Cần kiểm định độc lập, giám sát của con người, lưu vết quyết định và cơ chế xem xét lại cho khách hàng.
Ngân hàng đổi mới cung cấp hạ tầng cho kinh tế số qua thanh toán, tài trợ thương mại, quản lý dòng tiền, tín dụng số và kết nối chuỗi cung ứng. Ngân hàng mở giúp hợp tác với fintech nhưng đòi hỏi tiêu chuẩn an toàn, đồng thuận chia sẻ dữ liệu và trách nhiệm rõ ràng giữa các bên.
Cuối cùng, tốc độ đổi mới phải đi cùng niềm tin và ổn định tài chính. Quyết định số 1344/QĐ-NHNN ngày 23/6/2026 về Kế hoạch chuyển đổi số Ngân hàng Nhà nước giai đoạn 2026–2030 nhấn mạnh quản trị dựa trên dữ liệu, chuyển đổi số toàn ngành và an ninh, an toàn hệ thống. An toàn vì vậy là một phần cấu thành đổi mới, không phải khâu kiểm tra sau cùng.
Ở tầm nền kinh tế, ngân hàng số hóa hiệu quả có thể giảm chi phí giao dịch, tăng tốc độ luân chuyển vốn, cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ và hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Ngân hàng cũng có vị trí thuận lợi để lan tỏa chuẩn mực định danh, thanh toán, quản trị dữ liệu và an toàn số sang các lĩnh vực khác. Mặt khác, vì ngân hàng kết nối lượng lớn giao dịch và dữ liệu nhạy cảm, lỗi công nghệ, gian lận hoặc gián đoạn dịch vụ có thể ảnh hưởng đồng thời đến khách hàng, doanh nghiệp và niềm tin thị trường. Do đó, ý nghĩa của đổi mới ở ngành này luôn bao gồm cả hiệu quả và năng lực duy trì ổn định.
2.5. Vietcombank vận dụng tư duy lý luận của Đảng về đổi mới sáng tạo trong hoạt động
Việc vận dụng tư duy của Đảng tại Vietcombank được xem xét qua sáu phương diện có quan hệ với nhau. Các nội dung dưới đây tập trung nhận diện cách chuyển định hướng về đổi mới sáng tạo thành thay đổi trong tư duy quản trị, dịch vụ, mô hình hoạt động, kiểm soát, nhân lực và văn hóa tổ chức; đồng thời phân tích cả kết quả đã công bố lẫn những yêu cầu còn đặt ra.
2.5.1. Đổi mới nhận thức và tư duy lãnh đạo, quản trị
Việc vận dụng tư duy lý luận của Đảng trước hết thể hiện ở sự chuyển từ xem công nghệ là bộ phận hỗ trợ sang gắn công nghệ, dữ liệu và đổi mới với chiến lược phát triển dài hạn. Theo công bố sơ kết 6 tháng đầu năm 2026, Vietcombank đã kiện toàn Khối Công nghệ thông tin và Chuyển đổi số, đồng thời kiện toàn Khối Dữ liệu; ngân hàng triển khai AI, tự động hóa quy trình, nền tảng D-One và mô hình End-to-End nhằm nâng cao năng suất và tối ưu vận hành. Đây là dấu hiệu tổ chức có ý nghĩa: chuyển đổi số được bố trí ở cấp cấu trúc, gắn với dữ liệu và tái thiết kế quy trình.
Tuy nhiên, kiện toàn đầu mối mới là điều kiện cần. Để chuyển thành năng lực quản trị, mỗi chương trình đổi mới cần gắn với mục tiêu kinh doanh, người chịu trách nhiệm, dữ liệu nền, chi phí vòng đời, rủi ro và kết quả đo lường. Mô hình End-to-End chỉ cải thiện trải nghiệm nếu loại bỏ được các điểm đứt đoạn giữa tiếp nhận yêu cầu, thẩm định, phê duyệt, thực hiện và hậu kiểm. Cần theo dõi cả chỉ số đầu ra như thời gian xử lý, tỷ lệ giao dịch thành công, mức hài lòng và số lỗi phải làm lại; đồng thời theo dõi chỉ số rủi ro như gian lận, khiếu nại, sai lệch dữ liệu và thời gian gián đoạn dịch vụ.
Thay đổi tổ chức công nghệ và dữ liệu cho thấy chuyển đổi số được đặt gần hơn với trung tâm điều hành. Bước chuyển sâu hơn là đưa dữ liệu vào chu trình ra quyết định, từ xác định nhu cầu, phân bổ nguồn lực đến theo dõi kết quả. Điều này đòi hỏi phối hợp giữa cấp ủy, hội đồng quản trị, ban điều hành và đơn vị nghiệp vụ; nếu mục tiêu số hóa chỉ giao cho bộ phận kỹ thuật, các điểm nghẽn về quy trình và thói quen quản lý sẽ khó được xử lý. Cần nhìn nhận kết quả Vietcombank công bố như chỉ dấu về định hướng tổ chức, đồng thời phân biệt với bằng chứng đo lường đầy đủ về tác động năng suất.
![]() |
| Đoàn Vietcombank đạt giải đặc biệt Hội thi chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 (nguồn: vietcombank.com.vn) |
2.5.2. Đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển hệ sinh thái ngân hàng số
Các công bố năm 2026 cho biết hệ sinh thái số của Vietcombank kết nối hơn 1.700 đối tác; ngân hàng triển khai AI, Machine Learning, dữ liệu lớn và hạ tầng Cloud, đồng thời mở rộng thanh toán QR xuyên biên giới thông qua Alipay+ tại hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ. Các giải pháp định danh sinh trắc học qua VNeID, tín dụng trực tuyến toàn trình có chữ ký số và các ứng dụng dành cho hộ kinh doanh được ngân hàng giới thiệu như những hướng nâng cao tốc độ, tính thuận tiện và khả năng phục vụ.
Những kết quả này phản ánh ba hướng đổi mới: số hóa hành trình khách hàng, kết nối ngân hàng với các hệ sinh thái bên ngoài và đưa phân tích dữ liệu vào vận hành. Số lượng đối tác là chỉ báo về độ rộng kết nối, nhưng chưa tự nó chứng minh chất lượng tích hợp hay hiệu quả kinh tế. Để đánh giá thực chất, cần công bố và theo dõi thêm tỷ lệ khách hàng hoạt động thường xuyên, tỷ lệ giao dịch hoàn tất không cần hỗ trợ, thời gian xử lý, chi phí trên mỗi giao dịch, tỷ lệ chuyển đổi từ kênh số sang sử dụng dịch vụ, sự cố an ninh và mức độ hài lòng theo phân khúc. Kết nối hệ sinh thái chỉ tạo lợi thế bền vững khi khách hàng nhận được trải nghiệm liền mạch và ngân hàng kiểm soát được luồng dữ liệu, quyền truy cập và rủi ro đối tác.
Hệ sinh thái số tạo điều kiện để khách hàng tiếp cận dịch vụ tại nơi phát sinh nhu cầu, giảm các bước trung gian và kết nối thanh toán với hoạt động kinh doanh. Hơn 1.700 đối tác là chỉ báo về độ rộng mạng lưới hợp tác, còn thanh toán QR xuyên biên giới thể hiện khả năng kết nối dịch vụ ra ngoài thị trường nội địa. Tuy vậy, độ rộng kết nối cần được phân biệt với mức độ sử dụng thực chất: giá trị chỉ rõ khi dịch vụ hoạt động ổn định, liên thông, dễ dùng, có hỗ trợ khi phát sinh lỗi và bảo đảm khách hàng hiểu cách dữ liệu được chia sẻ.
2.5.3. Đổi mới sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh
Vietcombank mở rộng dịch vụ cho khách hàng cá nhân, doanh nghiệp, hộ kinh doanh và đơn vị cung cấp dịch vụ công. Trong nửa đầu năm 2026, các giải pháp VCB Digibank Hộ kinh doanh, Merchant App, OneQR, VCB Tablet và kết nối cơ quan thuế góp phần đưa số lượng khách hàng hộ kinh doanh tăng 145% so với năm 2025; dư nợ SME tăng 10,4%, doanh số thanh toán quốc tế và tài trợ thương mại tăng 16,1% so với đầu năm. Đây là bằng chứng hoạt động kinh doanh gắn với dịch vụ số, nhưng không thể quy toàn bộ tăng trưởng cho công nghệ nếu thiếu phân tích nhân quả.
Cần thiết kế sản phẩm theo bài toán cụ thể. Hộ kinh doanh có thể cần kết hợp thanh toán, đối soát và tiếp cận tín dụng dựa trên dòng tiền được phép sử dụng; SME cần quản lý dòng tiền, thanh toán chuỗi cung ứng và tài trợ thương mại. Ngân hàng mở cần bảo đảm đồng thuận có hiểu biết, tối thiểu hóa dữ liệu, API an toàn và trách nhiệm đối tác rõ ràng.
Đổi mới cũng gắn với phát triển bền vững. Vietcombank cho biết đã phát hành 4.000 tỷ đồng trái phiếu xanh và bền vững trong 2024–2025, đồng thời mở rộng thanh toán số cho dịch vụ công, bệnh viện và giao thông đô thị. Cần tiếp tục minh bạch tiêu chí phân loại khoản vay xanh, theo dõi mục đích vốn và báo cáo tác động môi trường – xã hội.
Các số liệu về khách hàng hộ kinh doanh, dư nợ SME và thanh toán quốc tế cho thấy đổi mới dịch vụ đang gắn với các phân khúc và hoạt động kinh doanh cụ thể. Tuy nhiên, cần thận trọng khi diễn giải mức tăng trưởng: đây là kết quả đồng thời chịu tác động của nhu cầu thị trường, chính sách tín dụng, điều kiện kinh tế và hoạt động bán hàng, nên chưa thể quy riêng cho công nghệ. Ý nghĩa của đổi mới sản phẩm nằm ở việc dịch vụ số làm giảm ma sát giao dịch, nâng khả năng quản lý dòng tiền và tạo thêm thông tin hữu ích cho khách hàng cũng như ngân hàng. Việc phát hành trái phiếu xanh, bền vững cũng cho thấy đổi mới sản phẩm tài chính có thể liên kết mục tiêu kinh doanh với định hướng phát triển bền vững.
2.5.4. Đổi mới quản trị và kiểm soát rủi ro
Dữ liệu và phân tích có thể nâng cao cảnh báo tín dụng, phát hiện gian lận và phân bổ nguồn lực. Vietcombank công bố nợ xấu dưới 1%, CAR 11,14% tại 30/6/2026 và áp dụng phương pháp tiêu chuẩn Basel III từ tháng 3/2026. Đây là các chỉ báo an toàn quan trọng nhưng không thay thế đánh giá riêng về rủi ro công nghệ, mô hình, dữ liệu, nhà cung cấp và khả năng phục hồi.
Quản trị rủi ro số cần bao phủ toàn vòng đời: nhận diện từ khâu thiết kế; phân loại mức độ trọng yếu; kiểm thử trước triển khai; giám sát sai lệch và truy cập; diễn tập ứng phó, khôi phục; đánh giá độc lập. Hồ sơ AI cần nêu mục đích, dữ liệu, giới hạn, khả năng giải thích, giám sát con người và phương án dừng. Quyết định ảnh hưởng đáng kể tới khách hàng cần có cơ chế kiểm tra, giải trình và xem xét lại.
Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Nghị định 356/2025/NĐ-CP và Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 đòi hỏi tích hợp bảo vệ dữ liệu và quản trị AI vào kiểm soát nội bộ. Nguyên tắc là đổi mới trong giới hạn rủi ro được phê duyệt; không đánh đổi an toàn hệ thống, quyền lợi khách hàng hay tuân thủ để đạt tăng trưởng ngắn hạn.
Dữ liệu, AI và tự động hóa vừa tăng năng lực phát hiện bất thường vừa tạo ra loại rủi ro mới, như sai lệch mô hình, phụ thuộc nhà cung cấp, tấn công mạng hoặc gián đoạn diện rộng. Vì vậy, đổi mới quản trị không chỉ là dùng công cụ phân tích để cảnh báo mà còn là thiết kế trách nhiệm giải trình, quyền truy cập, lưu vết quyết định, kiểm toán mô hình và phương án phục hồi. Việc Vietcombank công bố áp dụng phương pháp tiêu chuẩn Basel III từ tháng 3/2026 cho thấy quản trị rủi ro đang được đặt trong chuẩn mực cao hơn; song quản trị rủi ro số cần được theo dõi như một lĩnh vực riêng, bổ sung cho các chỉ số an toàn vốn và nợ xấu.
2.5.5. Phát triển nguồn nhân lực đổi mới sáng tạo
Ngân hàng số cần đội ngũ hiểu đồng thời nghiệp vụ ngân hàng, dữ liệu, công nghệ, pháp luật và hành vi khách hàng. Nhu cầu này không chỉ dành cho chuyên gia AI hay an ninh mạng. Cán bộ nghiệp vụ cần biết đọc dữ liệu, nhận diện thiên lệch, mô tả bài toán, kiểm tra đầu ra của công cụ và phát hiện dấu hiệu gian lận. Cán bộ quản lý cần có năng lực lựa chọn ưu tiên, điều phối liên đơn vị, đánh giá hiệu quả đầu tư và chịu trách nhiệm về rủi ro. Đội ngũ kỹ thuật cần hiểu quy định tài chính, bảo vệ dữ liệu và quy trình kiểm soát để giải pháp được thiết kế an toàn ngay từ đầu.
Vietcombank nên xây dựng khung năng lực số theo vị trí việc làm, phân tầng từ kỹ năng cơ bản đến chuyên sâu; kết hợp đào tạo chính quy, học qua dự án và luân chuyển ngắn hạn giữa đơn vị nghiệp vụ với công nghệ, dữ liệu và quản trị rủi ro. Cơ chế tuyển dụng cần mở rộng nguồn chuyên gia, đồng thời có lộ trình phát triển nhân tài nội bộ. Đánh giá hiệu quả đào tạo bằng khả năng ứng dụng, mức giảm lỗi, năng suất, chất lượng quyết định và kết quả phục vụ khách hàng, thay vì chỉ đếm số khóa học hoặc chứng chỉ.
Cơ cấu năng lực cần tương ứng với mức độ số hóa của từng vị trí. Cán bộ giao dịch cần thành thạo quy trình số và nhận diện gian lận; chuyên viên tín dụng cần hiểu dữ liệu đầu vào và giới hạn của mô hình; cán bộ quản lý cần đọc hiểu chỉ số, đặt câu hỏi về rủi ro và đánh giá hiệu quả; chuyên gia công nghệ cần nắm yêu cầu nghiệp vụ, pháp lý và an toàn. Cách tiếp cận này làm rõ rằng nâng cao năng lực số không đồng nghĩa đào tạo đồng loạt một bộ kỹ năng chung. Năng lực phối hợp liên ngành, học tập liên tục và khả năng thích ứng cũng quan trọng vì công nghệ và quy định thay đổi nhanh.
2.5.6. Xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo trong toàn hệ thống Vietcombank
Văn hóa đổi mới thể hiện ở cách tổ chức tiếp nhận sáng kiến, phối hợp giữa các đơn vị, thử nghiệm ý tưởng và ghi nhận kết quả. Tại một ngân hàng lớn, văn hóa này có ý nghĩa vì quy trình nhiều tầng và yêu cầu tuân thủ cao có thể làm giảm tính chủ động nếu cán bộ ngại chịu trách nhiệm hoặc xem đổi mới là việc riêng của bộ phận công nghệ. Ngược lại, tinh thần đổi mới thiếu giới hạn cũng có thể dẫn đến bỏ qua kiểm soát. Vì vậy, đặc trưng phù hợp với Vietcombank là kết hợp chủ động cải tiến với kỷ luật, minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Các văn bản mới năm 2026 làm rõ mối liên hệ giữa khuyến khích sáng tạo và trách nhiệm. Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 nhấn mạnh tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; Quy định số 220-QĐ/TW ngày 30/9/2026 cụ thể hóa cơ chế tôn vinh, trọng dụng và bảo vệ cán bộ đổi mới, đồng thời gắn điều đó với kỷ luật và kiểm soát quyền lực. Đối với Vietcombank, đây là cơ sở chính trị để nhận diện văn hóa đổi mới như một thành tố của năng lực tổ chức: sáng kiến phải hướng đến lợi ích chung, nằm trong quy trình được phê duyệt và được đánh giá theo kết quả thực tế.
3. Kết luận
Tư duy lý luận của Đảng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã phát triển thành một định hướng tích hợp, gắn với mô hình tăng trưởng, năng suất, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực tự chủ và lợi ích của người dân, doanh nghiệp. Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định những đột phá về thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu, công nghệ và an ninh; Văn kiện Đại hội XIV đặt các động lực này trong yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Đối với ngành ngân hàng, tư duy đó làm rõ rằng chuyển đổi số phải đi cùng đổi mới quản trị, sản phẩm, quy trình, cách phục vụ và văn hóa tổ chức. Thực tiễn Vietcombank cho thấy ngân hàng đã mở rộng hệ sinh thái số, kiện toàn tổ chức công nghệ và dữ liệu, ứng dụng AI và tự động hóa, phát triển dịch vụ cho nhiều phân khúc, đồng thời duy trì chú trọng quản trị rủi ro và tài chính bền vững. Những công bố này là căn cứ để nhận diện hướng vận dụng, song các chỉ số về quy mô kết nối hay tăng trưởng chưa tự thân chứng minh toàn bộ tác động của đổi mới.
Qua sáu phương diện phân tích ở trên cho thấy đổi mới sáng tạo tại Vietcombank là quá trình nhiều chiều: tư duy lãnh đạo tạo định hướng; hạ tầng và dữ liệu hỗ trợ dịch vụ; sản phẩm và mô hình kinh doanh chuyển hóa năng lực công nghệ thành giá trị; quản trị rủi ro bảo vệ niềm tin; nhân lực và văn hóa quyết định khả năng hấp thụ, duy trì cái mới. Mối liên hệ giữa các phương diện này là cơ sở để đánh giá đầy đủ việc vận dụng tư duy lý luận của Đảng trong hoạt động của Vietcombank trong giai đoạn hiện nay.
| Hồ Văn Tuấn, Đinh Phương Thu Hà, Vũ Thị Hồng Ngọc - Trần Thị Hải, Chi bộ 16 - Phòng Phê duyệt tín dụng - Đảng bộ Trụ sở chính Việtcombank |
Tin liên quan
Tin khác
VietinBank hiện thực hóa Nghị quyết 79: "Lời đáp từ thực tiễn" cho vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước (Kỳ 3)
VietinBank hiện thực hóa Nghị quyết 79: "Lời đáp từ thực tiễn" cho vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước (Kỳ 2)
VietinBank hiện thực hóa Nghị quyết 79: "Lời đáp từ thực tiễn" cho vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước (Kỳ 1)
Thúc đẩy triển khai Basel III gắn với bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo: Từ đổi mới tư duy lãnh đạo của tổ chức đảng đến nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp
Trạng thái đầu tư quốc tế: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị triển khai tại Việt Nam
Củng cố niềm tin xã hội - Nguồn lực vô giá để đất nước tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc (Kỳ 3)
Củng cố niềm tin xã hội - Nguồn lực vô giá để đất nước tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc (Kỳ 2)
Củng cố niềm tin xã hội - Nguồn lực vô giá để đất nước tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc (Kỳ 1)






