Để đạt tổng kim ngạch xuất khẩu 300 tỷ USD

08:28 | 10/01/2020

Một số chuyên gia xuất khẩu cho rằng, vấn đề mấu chốt nhất của việc để tăng trưởng nền kinh tế nói chung và tăng cường xuất khẩu nói riêng của chúng ta là phải cải cách thể chế...

Xuất khẩu năm 2019: Vượt khó thành công
Giấy thông hành cho doanh nghiệp xuất khẩu
Ảnh minh họa

Đánh giá về con số 514 tỷ USD tổng kim ngạch xuất nhập khẩu và con số xuất siêu gần 11 tỷ USD của năm 2019, PGS.TS. Phạm Tất Thắng - chuyên gia thương mại cao cấp cho biết, thật bất ngờ bởi lẽ đầu năm 2019 chúng ta đánh giá có rất nhiều khó khăn và khó có thể đạt được mức độ tăng trưởng cao. Đây là tiền đề quan trọng để Chính phủ đặt mục tiêu năm 2020, kim ngạch xuất khẩu cán mốc 300 tỷ USD.

Nhìn lại bức tranh xuất khẩu từ ngày đổi mới năm 1986, Việt Nam không có một mặt hàng xuất khẩu nào đạt tới 200 triệu USD; mãi đến năm 2005 mới chỉ có 7 mặt hàng xuất khẩu đạt được 1 tỷ USD; thế nhưng đến năm 2019 chúng ta đã có 30 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USD trở lên. Hơn thế, nếu nhìn vào trước đây chúng ta chủ yếu là xuất khẩu những mặt hàng nguyên liệu, tài nguyên, như dầu thô, dệt may gia công, gạo…; thì năm 2019, kim ngạch xuất khẩu những mặt hàng có giá trị cao như: điện thoại, linh kiện máy tính, đồ điện tử lại rất cao và chiếm tỷ trọng lớn.

“Điều đáng mừng là trong suốt một thời gian dài, xuất khẩu của chúng ta chủ yếu trông vào các DN đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thì năm 2019 này, tốc độ tăng trưởng của các DN 100% vốn trong nước lại rất cao. Thật tuyệt vời khi nó cao hơn gấp hơn gần 3 lần so với tốc độ tăng trưởng của các DN FDI. Điều này cho thấy nội lực của các DN Việt Nam đã có sự chuyển biến rất tích cực”, ông Thắng cho hay.

Năm 2020, Bộ Công thương đánh giá có rất nhiều yếu tố cản trở đà tăng trưởng xuất khẩu, như: kinh tế thế giới tiếp tục đà giảm tốc và dự báo nhu cầu tiêu dùng tiếp tục giảm, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực vẫn đang phải đối diện với những khó khăn, thách thức, cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ và gay gắt hơn. Cùng với đó là căng thẳng thương mại giữa nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới tiếp tục tác động đa chiều tới hoạt động thương mại của Việt Nam vì thế dự báo hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong năm 2020 là không dễ dàng.

Tuy nhiên, các chuyên gia kinh tế lại tỏ ra khá lạc quan với mục tiêu mà Chính phủ đã đặt ra là đưa kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam cán mốc 300 tỷ USD khi có một sự hỗ trợ rất đắc lực và thiết thực của các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác cho hoạt động xuất khẩu để đạt được mục tiêu đó. Ví dụ bất chấp kinh tế toàn cầu giảm tốc mạnh, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn đạt tới 7,02% trong năm 2019 và GDP bình quân đầu người đã đạt mốc 3.000 USD. Đặc biệt là nhờ có xuất siêu 11 tỷ USD nên dự trữ ngoại tệ của Việt Nam tăng cao kỷ lục, gần chạm ngưỡng 80 tỷ USD. Năng lực cạnh tranh quốc gia do Diễn đàn kinh tế thế giới xếp hạng Việt Nam đã đạt được ở mức cao nhất từ trước đến nay, thứ hạng 61/141 quốc gia xếp hạng. 

Ngoài ra, chỉ số năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam cũng được tăng lên 3 bậc so vớinăm 2018 và động lực tăng trưởng kinh tế của chúng ta năm 2019 là nhữngmặt hàng công nghiệp chế biến chế tạo chứ không phải là khai thác tài nguyên… 

Bình luận về các giải pháp để có thể đạt mục tiêu 300 tỷ USD giá trị xuất khẩu, ông Phạm Tất Thắng cho biết, Chính phủ đã nêu ra những giải pháp hết sức cụ thể, đặc biệt Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã cho rằng, để đạt giá trị xuất khẩu 300 tỷ USD không phải chỉ có sự cố gắng của riêng các DN xuất khẩu mà cần phải phát triển dịch vụ logictics và dịch vụ tài chính, ngân hàng, du lịch…

“Vấn đề cốt lõi mà Thủ tướng muốn nhắn gửi là tất cả các bộ phận trong nền kinh tế quốc dân phải có sự liên kết để cùng nhau đạt được mục tiêu mà quốc gia đã đặt ra”, ông Thắng nhấn mạnh.

Ở một góc nhìn khác, một số chuyên gia xuất khẩu cho rằng, vấn đề mấu chốt nhất của việc để tăng trưởng nền kinh tế nói chung và tăng cường xuất khẩu nói riêng của chúng ta là phải cải cách thể chế. Nhũng nhiễu DN là một căn bệnh đã theo đuổi chúng ta trong suốt thời gian vừa qua, tuy nhiên trong những năm gần đây, điều này đã được cải thiện đáng kể và đây chính là một trong những nguyên nhân giúp chúng ta đạt được kết quả tổng kim ngạch xuất khẩu của năm 2019. 

“Phải nói rằng Thủ tướng đã bắt đúng bệnh và đã kê đơn đúng thuốc. Việc quan trọng bây giờ là chúng ta cần phải kiên quyết điều trị dứt điểm căn bệnh này để nền kinh tế ngày càng khởi sắc hơn”, một chuyên gia nhấn mạnh.

Dương Công Chiến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.530 23.720 25.667 26.894 28.701 29.729 212,13 222,94
BIDV 23.565 23.725 26.021 26.860 29.028 29.611 213,97 222,40
VietinBank 23.560 23.730 26.026 26.861 28.989 29.629 216,95 224,65
Agribank 23.540 23.690 24.749 25.272 26.830 27.349 209,08 213,60
Eximbank 23.550 23.710 25.966 26,569 29.046 29.720 217,43 222,47
ACB 23.550 23.710 26.002 26.403 29.132 29.507 218,48 221,85
Sacombank 23.538 23.720 26.014 29.645 29.126 29.645 217,69 224,07
Techcombank 23.552 23.712 25.746 26.722 28.734 29.680 216,67 223,64
LienVietPostBank 23.500 23.680 25.634 26.628 28.764 29.745 214,87 226,07
DongA Bank 23.570 23.700 25.980 26.410 29.020 29.540 213,50 220,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.100
48.320
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.100
48.300
Vàng SJC 5c
47.100
48.320
Vàng nhẫn 9999
44.700
45.900
Vàng nữ trang 9999
44.400
45.700