Để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

13:55 | 10/08/2022

Sau 2 năm chịu tác động nặng nề của đại dịch COVID-19, đây là cơ hội để phát triển du lịch bền vững mà ưu tiên chính của du lịch bền vững là bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị của các di sản văn hóa tại Việt Nam, giảm tác động vào môi trường...

Báo cáo gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội về vấn đề thực hiện chính sách pháp luật để du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng cho biết, du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, liên quan nhiều đến các chuyên ngành khác nhau như: thương mại, quản lý thị trường, hàng không, giao thông vận tải, di sản văn hóa, tài nguyên môi trường, xuất nhập cảnh, quy hoạch. Chính vì vậy, các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực du lịch được điều chỉnh bởi nhiều hệ thống văn bản khác nhau.

Hướng tới sự chuyên nghiệp, chất lượng, bền vững

Để phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, chất lượng, bền vững và thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/1/2017. Quan điểm đầu tiên của Nghị quyết nêu rõ: “Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn là định hướng chiến lược quan trọng để phát triển đất nước, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác”.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhận thức sâu sắc rằng, gần 20 năm sau Thông báo Kết luận số 179-TB/TW ngày 11/11/1998 về “Phát triển du lịch trong thời kỳ mới”, việc Bộ Chính trị lần đầu tiên ban hành một Nghị quyết riêng thể hiện sự quan tâm đặc biệt, sự kỳ vọng của Đảng, Nhà nước đối với ngành du lịch.

de du lich thuc su tro thanh nganh kinh te mui nhon
Ảnh minh họa

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, với tinh thần nghiêm túc, quyết liệt, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch luôn xác định công tác nghiên cứu, tham mưu cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt. Bám sát 8 nhóm nhiệm vụ và giải pháp Nghị quyết số 08-NQ/TW đã chỉ ra, Bộ đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội khóa XIV thông qua Luật Du lịch 2017; trình Chính phủ ban hành Nghị định số 168/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 quy định chi tiết một số điều của Luật Du lịch; Nghị định số 30/2022/NĐ-CP ngày 19/5/2022 quy định mô hình quản lý khu du lịch quốc gia và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan tạo khung khổ pháp lý, điều kiện thuận lợi phát triển ngành du lịch.

Trong 5 năm qua, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chấp hành nghiêm túc và thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật; chấp hành nghiêm túc sự lãnh đạo của Đảng, sự giám sát của Quốc hội; tuân thủ Quy chế làm việc của Chính phủ và phối hợp chặt chẽ cùng các ban, bộ, ngành, Ủy ban của Quốc hội, các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương, cộng đồng doanh nghiệp tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các quy định, cơ chế chính sách phát triển du lịch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; thường xuyên rà soát để kịp thời phát hiện những vấn đề khó khăn, vướng mắc, những “điểm nghẽn”, “rào cản” để báo cáo Chính phủ, Quốc hội xem xét, chỉ đạo, tháo gỡ, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam.

Đại dịch tác động nặng nề

Về kết quả thực hiện, Bộ trưởng cho biết, trước khi xảy ra đại dịch COVID-19, ngành du lịch đã có bước tăng trưởng vượt bậc, trung bình 22,7%/năm trong giai đoạn 2015-2019. Năm 2019, toàn Ngành đón trên 18 triệu lượt khách du lịch quốc tế, 85 triệu lượt khách du lịch nội địa; đóng góp trên 9,2% vào GDP và từng bước khẳng định là ngành kinh tế mũi nhọn (tỷ lệ đóng góp vào GDP năm 2015 là 6,3%).

Du lịch Việt Nam đạt được nhiều giải thưởng danh giá do các tổ chức du lịch uy tín trên thế giới bình chọn đã khẳng định thương hiệu và chất lượng của du lịch Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

Nhưng trong 2 năm 2020, 2021, đại dịch COVID-19 tác động nặng nề tới toàn bộ đời sống, kinh tế - xã hội toàn cầu. Theo số liệu của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), ngành du lịch thế giới thiệt hại khoảng 2,4 nghìn tỷ USD trong năm 2021; có 46 quốc gia, chiếm 21% điểm đến du lịch toàn cầu phải đóng cửa hoàn toàn biên giới, dừng đón khách du lịch quốc tế và 55 quốc gia đóng cửa biên giới một phần. Lượng khách du lịch quốc tế giảm hơn 1 tỷ lượt, tương đương 73% so với năm 2020, trong đó ảnh hưởng nặng nề nhất là khu vực Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Nam Á. Tỷ lệ thất nghiệp trong các ngành nghề liên quan đến du lịch cao gấp 4 lần so với các ngành nghề khác. Tổ chức Du lịch thế giới cũng nhận định, du lịch toàn cầu phải mất 2,5 đến 4 năm để lấy lại đà tăng trưởng như năm 2019.

Tại Việt Nam, hoạt động du lịch quốc tế phải tạm dừng hoàn toàn từ tháng 4/2020 đến tháng 11/2021. Hoạt động du lịch nội địa trải qua 4 lần gián đoạn tương ứng với 4 lần bùng phát dịch.

Năm 2020, khách nội địa giảm 34%, tổng thu từ khách du lịch giảm 60% so với năm 2019. Năm 2021 khách du lịch nội địa đạt 40 triệu lượt, giảm 29% so với năm 2020; tổng thu từ khách du lịch đạt 180.000 tỷ đồng, giảm 42% so với cùng kỳ.

Đổi mới tư duy, đổi mới hành động

Sau khi phân tích và nhận định tình hình trong nước và quốc tế, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết, phục hồi và phát triển du lịch bền vững hậu COVID-19 không thể thành công trong “một sớm, một chiều”; phải “tư duy mới, hành động mới”, cần nghiên cứu xây dựng và triển khai một chương trình tổng thể, các cấp, các ngành, các địa phương và thậm chí cả các quốc gia thống nhất hành động.

Du lịch phải đứng trên hai chân “nội địa” và “quốc tế”. Trong bối cảnh thị trường quốc tế cần thời gian để phục hồi thì du lịch nội địa tiếp tục là chìa khóa giúp ngành du lịch Việt Nam tạo đà và phát triển (ngay trước khi có COVID-19 thì du lịch nội địa cũng đã đóng góp tới 5,5% tổng GDP cho toàn bộ nền kinh tế).

Sau 2 năm chịu tác động nặng nề của đại dịch COVID-19, đây là cơ hội để phát triển du lịch bền vững mà ưu tiên chính của du lịch bền vững là bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị của các di sản văn hóa tại Việt Nam, giảm tác động vào môi trường. Chuyển đổi số là xu hướng tất yếu của ngành du lịch.

Để đạt được mục tiêu, một là, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp cùng các địa phương sơ kết, đánh giá 5 năm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/1/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn để đề xuất sửa đổi, bổ sung (nếu cần thiết). Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xác định đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng, là nền tảng để thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành chính sách pháp luật, sửa đổi Luật Du lịch 2017 (nếu cần thiết) tạo khung khổ cho du lịch Việt Nam phát triển trong thời gian tới.

Song song với đó là hoàn thành Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021­2030, tầm nhìn đến 2045 trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 11/2022, trong đó phối hợp với các địa phương để nghiên cứu, định hướng các địa điểm tiềm năng phát triển thành khu du lịch quốc gia; làm cơ sở cho các địa phương triển khai lập Quy hoạch các khu du lịch quốc gia trên địa bàn tỉnh/thành phố.

Thứ hai, tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, chính sách, biện pháp hỗ trợ địa phương, doanh nghiệp phục hồi, phát triển du lịch (Hoãn nợ, miễn giảm thuế, cho vay ưu đãi; đầu tư sửa chữa, duy tu các khu di tích, quần thể du lịch, dịch vụ du lịch nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, năng lực cạnh tranh).

Thứ ba, phát huy vai trò dẫn dắt của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch trong phát huy hiệu quả liên kết phát triển du lịch, phát triển sản phẩm, công tác xúc tiến, quảng bá.

Thứ tư, phát huy hiệu quả hoạt động của Quỹ Hỗ trợ phát triển du lịch để hỗ trợ các địa phương phục hồi, phát triển du lịch đặc biệt là phát triển du lịch cộng đồng, xúc tiến, quảng bá du lịch.

Thứ năm, tiếp tục đồng hành, phát huy sức mạnh của toàn dân và doanh nghiệp, vai trò của hiệp hội du lịch, tổ chức các diễn đàn, cuộc trao đổi để doanh nghiệp có cách nhìn đúng, đồng hành cùng Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các địa phương nỗ lực xây dựng, phục hồi và phát triển du lịch.

Thứ sáu, tăng cường năng lực cho các cơ sở đào tạo và giảng viên; đẩy mạnh xã hội hóa và hợp tác quốc tế về đạo tào nhân lực; nâng cao kỹ năng nghề qua hoàn thiện và áp dụng các bộ tiêu chuẩn nghề thống nhất ở cấp độ quốc gia và quốc tế...

Dương Công Chiến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.535 23.845 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.565 23.845 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.545 23.845 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.550 23.830 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.570 23.830 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.530 23.900 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.585 23.960 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.558 23.850 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.520 23.990 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.610 23.860 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.800
66.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.800
66.600
Vàng SJC 5c
65.800
66.620
Vàng nhẫn 9999
50.450
51.350
Vàng nữ trang 9999
50.350
50.950