Để phát triển bền vững ngành mía đường

07:01 | 15/11/2021

Định hướng phát triển ngành mía đường trong thời gian tới, Thứ trưởng Trần Quốc Khánh đề nghị tách bạch ngành mía với ngành đường. Ngành đường cần phải đồng hành với nông dân, doanh nghiệp. Cùng với đó, ngành đường cần phải trung thực với chính mình. Phải nhìn nhận đúng để tham mưu cho ra những chính sách đúng đắn.

Mía từng được xem là cây xóa đói giảm nghèo của nhiều tỉnh, thành trong cả nước. Trong đó Phú Yên là vùng nguyên liệu trồng mía lớn của cả nước với 29.000 ha và 20.000 hộ trồng. Việc trồng mía đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn của tỉnh nhưng ngày vui không được kéo dài khi giá mía đường liên tục xuống thấp.

Hay tại Hậu Giang, trước năm 2010, mía là cây trồng chủ lực, có lợi thế cạnh tranh tại địa phương do thích nghi thổ nhưỡng. Song từ năm 2015 đến nay, diện tích mía giảm dần từ hơn 15.000 ha xuống còn hơn 5.000 ha năm 2020. Cả tỉnh hiện chỉ có 1 nhà máy đường đang hoạt động nhưng cũng chỉ sản xuất duy nhất mặt hàng đường, chưa sử dụng các phụ phẩm từ mía để chế biến nâng cao giá trị, chưa có giống mía năng suất cao, trữ lượng cao như mong muốn của bà con nông dân…

de phat trien ben vung nganh mia duong
Ảnh minh họa

Theo TS. Cao Anh Đương, Quyền Chủ tịch Hiệp hội Mía đường Việt Nam - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Mía đường, do tác động kép của biến đổi khí hậu, miền Tây hạn mặn, miền Trung khô cạn khiến diện tích mía 3 niên vụ giảm liên tiếp, từ hơn 190.000 ha trong niên vụ 2018-2019 xuống còn gần 129.000 ha niên vụ 2020-2021; Số lượng nhà máy đường chỉ còn 24 nhà máy (riêng tại Nam Trung bộ, số lượng nhà máy giảm từ 9 xuống còn 6 nhà máy).

Báo cáo của Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công thương cho hay, đến nay, ngành đường Việt Nam đã hoàn thành niên vụ mía 2020-2021. Toàn ngành đã ép được 6.739.417 tấn mía, đạt sản lượng 689.830 tấn đường, thấp hơn niên vụ 2019-2020. Trong niên vụ 2020-2021, mặc dù giá mía nguyên liệu có tăng khoảng từ 150.000 đến 200.000 đồng/tấn so với niên vụ trước, nhưng vẫn là năm khó khăn chung của ngành mía đường.

Ông Trần Quốc Khánh, Thứ trưởng Bộ Công thương cho biết, trong suốt 25 năm qua, bộ đã chủ động hỗ trợ và đồng hành với doanh nghiệp và người nông dân nhằm đạt mục tiêu cao nhất là phải tiêu thụ hết mía cho nông dân, bảo đảm vụ mùa có lời. Không chỉ đồng hành, hỗ trợ trong phạm vi pháp luật cho phép, quan điểm của bộ là lập lại trật tự kinh doanh công bằng trên thị trường mía đường với 4 nhóm lợi ích hợp pháp: Thứ nhất là lợi ích của người dân trồng mía; Thứ hai là lợi ích của các nhà máy đường; Thứ ba là lợi ích của hàng vạn cơ sở sản xuất thực phẩm và thực phẩm chế biến đang sử dụng đường; Thứ tư là lợi ích của hơn 90 triệu người tiêu dùng Việt Nam.

Hiện người trồng mía và ngành mía đường nước ta đang gặp thách thức lớn trước đường nhập khẩu và đường nhập lậu khi từ năm 2020, Việt Nam thực hiện xóa bỏ hạn ngạch thuế quan đối với mía đường trong khu vực theo Hiệp định ATIGA.

Các biện pháp mà Bộ Công thương liên tiếp triển khai trong thời gian qua đã góp phần ngăn chặn được tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong ngành mía đường (thể hiện qua số liệu nhập khẩu trong các tháng vừa qua) nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành nhập khẩu mặt hàng đường, góp phần bảo hộ ngành mía đường trong nước. Những hành động quyết liệt này đã giúp ngành mía đường hồi phục, giá mía giai đoạn cuối vụ tăng từ 100.000 - 200.000 đồng/tấn.

Về giải pháp phục hồi và phát triển ngành mía đường, TS. Cao Anh Đương cho rằng, cần tập trung khâu trồng mới đúng kỹ thuật, cơ giới hóa trong canh tác mía để giảm giá thành, nâng cao hiệu quả trồng mía. Thêm vào đó, cần phải chăm sóc kịp thời, đúng yêu cầu kỹ thuật về mật độ trồng, làm cỏ - một khâu tốn rất nhiều chi phí nên nếu làm không đúng sẽ chẳng những thiệt hại về tiền mà lại không hiệu quả, bón phân, phòng trừ sâu bệnh, chống chịu hạn.

Định hướng phát triển ngành mía đường trong thời gian tới, Thứ trưởng Trần Quốc Khánh đề nghị tách bạch ngành mía với ngành đường. Ngành đường cần phải đồng hành với nông dân, doanh nghiệp.

Cùng với đó, ngành đường cần phải trung thực với chính mình. Phải nhìn nhận đúng để tham mưu cho ra những chính sách đúng đắn. “Nhà nước đã và sẽ nỗ lực hết sức để tạo lập môi trường cạnh tranh công bằng thông qua các loại thuế phòng vệ thương mại, hỗ trợ cho ngành đường phát triển. Giờ là lúc chúng ta cần quay lại để hoàn thiện bản thân mình” - Thứ trưởng Trần Quốc Khánh nhìn nhận.

Hữu An

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.560 22.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.600 22.880 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.565 22.865 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.580 22.820 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.650 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.630 22.830 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.610 22.902 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.595 22.875 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.640 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.660 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
61.100
61.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
61.100
61.700
Vàng SJC 5c
61.100
61.720
Vàng nhẫn 9999
52.600
53.250
Vàng nữ trang 9999
52.250
52.950