Để tăng trưởng xanh: Điều tiết bằng chính sách thuế

11:34 | 12/03/2019

Chính sách thuế nhằm hạn chế sản xuất, tiêu dùng các sản phẩm gây nguy hại đối với môi trường chưa phù hợp thực tiễn; số thu từ các sắc thuế này chưa tương xứng với những tổn hại mà các hoạt động liên quan gây ra.

Đó là kết luận chính rút ra từ nghiên cứu “Sử dụng công cụ chính sách thuế nhằm điều tiết nền kinh tế hướng tới tăng trưởng xanh và phát triển bền vững ở Việt Nam”, vừa được Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) công bố.  

Xăng, dầu là mặt hàng ai cũng phải sử dụng, bao gồm cả người nghèo, nếu tăng thuế có thể tác động tới việc phân phối thu nhập.

Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp để chọn lọc đầu tư

Tăng trưởng xanh và phát triển bền vững ở các quốc gia nhìn chung đều hướng tới giảm phát thải khí CO2 gây hiệu ứng nhà kính; phát triển công nghệ xanh và các ngành công nghiệp sử dụng ít tài nguyên, áp dụng các biện pháp sản xuất sạch… thông qua việc yêu cầu các nhà sản xuất chuyển chi phí bảo vệ môi trường vào giá thành sản phẩm; khuyến khích các nhà sản xuất đầu tư bảo vệ môi trường.

Việt Nam đã thiết kế chính sách thuế hướng đến mục tiêu tăng trưởng xanh như miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng chỉ giảm phát thải; áp dụng thuế suất 10% đối với thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện hoạt động xã hội hóa lĩnh vực môi trường, ưu đãi thuế cho các nhà sản xuất sản phẩm tiêu dùng xanh…

Nhưng theo ông Nguyễn Mạnh Hải, Trưởng ban Ban Nghiên cứu các vấn đề xã hội CIEM - đại diện nhóm nghiên cứu, thì “các chính sách này chưa đủ mạnh” để khuyến khích sản xuất sạch, tiêu dùng xanh.

Thu thuế môi trường của Việt Nam năm 2014 mới đạt khoảng 0,31% GDP, thấp hơn nhiều so với Ấn Độ (0,95% GDP), Trung Quốc (1,33% GDP), Nhật Bản (1,48% GDP) và Hàn Quốc (2,54% GDP)...

Để chính sách khuyến khích tăng trưởng xanh đủ mạnh, phù hợp với thực tiễn, nhóm nghiên cứu CIEM đề xuất: hoàn thiện chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cả về mức ưu đãi và thời gian ưu đãi, nhằm thu hút có chọn lọc đầu tư vào phát triển ngành, lĩnh vực công nghệ cao, sử dụng công nghệ thân thiện với môi trường, có giá trị gia tăng cao; khuyến khích sản xuất năng lượng sạch; khuyến khích phát triển vận tải công cộng.

Đồng thời, để khuyến khích sản xuất, tiêu dùng xanh, tăng trưởng bền vững, theo CIEM, cần quy định mức thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng sinh học bằng 50% của mức thuế xăng khoáng. Quy định này nhằm tạo sự chênh lệch đáng kể về giá bán giữa xăng sinh học và xăng khoáng.

Với công cụ thuế giá trị gia tăng (VAT), theo CIEM cần sửa đổi chính sách theo hướng quy định mức thuế suất 0% đối với dịch vụ duy trì vườn thú, vườn hoa, công viên, cây xanh đường phố; vận chuyển hành khách công cộng bằng xe buýt, xe điện…

Áp thuế, phí môi trường theo giá thị trường

CIEM cũng đề nghị tiếp tục duy trì và tăng mức thu của chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xe ô tô, nhiên liệu hoá thạch nhằm hạn chế tiêu dùng các loại hàng hoá này. 

Với thuế bảo vệ môi trường, cần tăng mức thu đồng thời áp dụng kết hợp mức thu tuyệt đối và mức thuế suất theo tỷ lệ phần trăm. Việc cần làm nữa là mở rộng phạm vi đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường để bao quát hết các sản phẩm gây tổn hại đối với môi trường như: phân bón hóa học và khí thải.

Ông Hải cho rằng nên tăng mức thu và áp dụng kết hợp mức thu tuyệt đối và mức thuế suất theo tỷ lệ phần trăm đối với các sản phẩm hoặc chất thải gây tổn hại đến môi trường, đồng thời mở rộng phạm vi đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường.

Bên cạnh đó, cần tiếp cận chính sách thuế, phí bảo vệ môi trường theo cơ chế giá thị trường, đảm bảo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” và khuyến khích khu vực tư nhân tham gia thu gom, xử lý chất thải.

Bà Đặng Thị Thu Hoài, Thư ký Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ ủng hộ đề xuất của CIEM, nhưng cũng lưu ý việc tăng các mức thuế có thể ảnh hưởng tới chi phí sản xuất, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.  

Bên cạnh đó, bà Hoài tỏ ra lo lắng vì xăng, dầu là mặt hàng ai cũng phải sử dụng, bao gồm cả người nghèo, nếu tăng thuế có thể tác động tới việc phân phối thu nhập.

Bà Hoài lưu ý rằng các nước phát triển, có điều kiện về kinh tế, có hệ thống phúc lợi xã hội hoàn thiện, thì có điều kiện để áp dụng các chinh sách thuế dễ dàng hơn. “Ta học hỏi kinh nghiệm thế giới nhưng cần soi vào thực tế Việt Nam”, bà nói.

Chia sẻ quan điểm, theo bà Nguyễn Thị Tuệ Anh, Phó Viện trưởng CIEM, thuế là một công cụ hữu hiệu nhưng nếu chỉ chăm chăm vào chính sách thuế sẽ không đủ. Vì thế, để tăng trưởng xanh, phát triển bền vững thì thuế chỉ là một công cụ cần được kết hợp hài hòa và liên kết chặt chẽ với những chính sách khác như tín dụng xanh…

Kết quả nghiên cứu này được kỳ vọng sẽ góp phần củng cố các luận cứ khoa học về sử dụng chính sách thuế nhằm điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững ở Việt Nam, phục vụ việc xây dựng Chiến lược cải cách thuế giai đoạn 2021-2030 và Chiến lược tài chính 2021-2030.

LL

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,30
4,30
4,80
5,53
5.53
6,00
6,10
BIDV
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,00
3,80
3,80
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,70
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,90
4,00
4,00
5,70
6,10
6,50
6,70
Techcombank
0,10
-
-
-
3,50
3,60
3,65
5,20
5,00
5,00
5,10
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
4,00
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
4,25
4,25
4,25
4,60
4,80
6,20
6,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.041 23.271 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.250 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.078 23..290 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.072 23.272 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.100 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.110 23.240 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.000
56.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.000
56.700
Vàng SJC 5c
56.000
56.720
Vàng nhẫn 9999
53.900
54.550
Vàng nữ trang 9999
53.450
54.250