Để thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển lành mạnh

08:53 | 22/04/2022

Cần sớm hoàn thiện hành lang pháp lý để thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển bền vững.

Thời gian qua, phát hành trái phiếu để huy động vốn đã trở thành kênh dẫn vốn hiệu quả cho các DN trong bối cảnh các ngân hàng từng bước giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn theo quy định. Nếu năm 2017, quy mô thị trường trái phiếu DN đạt khoảng 4,9% GDP thì đến năm 2021, con số này đã tăng lên tới 16,6% GDP.

Tuy nhiên, trong 2 năm trở lại đây, có thực trạng là nhiều DN phát hành trái phiếu với lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi của ngân hàng để thu hút vốn. DN huy động được vốn cho sản xuất, kinh doanh, đầu tư… nhưng tiềm ẩn rủi ro cho nhà đầu tư, cho thị trường.

de thi truong trai phieu doanh nghiep phat trien lanh manh
Trên thị trường trái phiếu DN, DN bất động sản chiếm tỷ trọng 39%

Ông Huỳnh Anh Tuấn, Tổng giám đốc Công ty chứng khoán Ngân hàng Đông Á dẫn chứng, lãi suất trái phiếu DN khoảng 12%/năm, trong khi mức lãi suất tiền gửi trung bình tại các ngân hàng hiện nay là khoảng 6%/năm, khiến nhà đầu tư luôn bị trái phiếu DN hấp dẫn. Ở chiều hướng khác, việc DN phát hành trái phiếu riêng lẻ không cần xin phép, chỉ lập phương án, kêu gọi đầu tư là phát hành cho thấy hình thức phát hành này quá lỏng lẻo. Vì vậy, hầu hết DN bất động sản đều chọn phát hành riêng lẻ.

Năm 2021, lượng trái phiếu DN phát hành bằng cả giai đoạn 2011-2018, trong đó 95% là phát hành riêng lẻ, 5% phát hành ra công chúng. Gần đây, phát hành trái phiếu rất hay được gắn với khái niệm “3 không” (không tín nhiệm, không bảo lãnh thanh toán, không tài sản bảo đảm). Song điều khiến Th.S Nguyễn Anh Vũ, Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM lo ngại là ngoài "3 không" thì còn có cái "không" thứ 4, thứ 5 khác, như không có năng lực tài chính tốt, dòng tiền, phương án kinh doanh không khả thi, dòng vốn không đúng mục đích…

Thực tế cho thấy, tỷ lệ phát hành trái phiếu "3 không" chiếm tới hơn 30% trong tổng khối lượng trái phiếu DN phát hành là rất nghiêm trọng, chủ yếu rơi vào trái phiếu của DN chưa niêm yết. Chưa kể, có DN phát hành trái phiếu lớn hơn nhiều so với vốn chủ sở hữu.

Theo GS-TS. Đinh Trọng Thịnh, chuyên gia kinh tế, việc phát hành trái phiếu DN ở Việt Nam đang tồn tại rất nhiều điều cần bàn nghiêm túc.

Hiện Chính phủ đang chuẩn bị sửa đổi Nghị định 153 để có khung pháp lý chuẩn hơn cho thị trường phát triển, quan điểm sửa đổi Nghị định là bịt lỗ hổng nhưng phải thúc đẩy sự phát triển của thị trường trái phiếu nói riêng và chứng khoán nói chung chứ không nên tạo nhiều thủ tục hành chính hơn, gây cản trở hoạt động phát hành trái phiếu của DN.

Cần phải chú trọng phát triển thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC), quy định điều kiện bán chứng khoán lần đầu và quy định về mua đi bán lại của các DN niêm yết. Đây là những điều rất quan trọng nhằm tạo ra dòng chảy vốn tốt hơn. Điều này sẽ tạo thuận lợi cho các thành phần tham gia cũng như cơ quan giám sát, chuyên gia kinh tế Đinh Trọng Thịnh cho biết thêm.

TS. Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách Tài chính - Tiền tệ quốc gia cho biết, việc xác định quan điểm trái phiếu DN là kênh huy động vốn trung và dài hạn là rất quan trọng. Mỗi năm hệ thống ngân hàng cung ứng cho nền kinh tế khoảng 1,4 - 1,5 triệu tỷ đồng; 45% trong đó là vốn trung dài hạn. Ước tính giai 2022-2025, nền kinh tế cần 3,15 triệu tỷ đồng/năm, trong khi vốn nhà nước chỉ chiếm 25%-26%, còn lại phải huy động nguồn lực bên ngoài, cho thấy vai trò quan trọng của thị trường vốn nói chung và thị trường trái phiếu DN nói riêng. Hiện vốn huy động qua thị trường chứng khoán gồm cả cổ phiếu và trái phiếu tương đương 26% tổng lượng vốn cung ứng ra nền kinh tế. Trái phiếu DN chiếm khoảng 22,7% tổng lượng vốn cung ứng cho nền kinh tế mỗi năm, còn nguồn vốn huy động qua phát hành cổ phiếu chỉ chiếm 3,5% tổng lượng vốn đưa ra nền kinh tế. Do đó, thị trường trái phiếu còn nhiều dư địa phát triển.

Ông Phùng Xuân Minh - Tổng giám đốc Công ty CP Sài Gòn Phát Thịnh Rating cho rằng, thị trường trái phiếu chỉ phát triển tương đối nhanh, mạnh trong khoảng 5 năm trở lại đây. Với quy mô thị trường vốn hiện khoảng 17,5% GDP, con số này rất thấp so với Trung Quốc là 35,7%; Hàn Quốc 87% GDP; Singapore khoảng 36,5% GDP, Thái Lan khoảng 25% GDP… Trên thị trường trái phiếu DN, DN bất động sản chiếm tỷ trọng 39%; tổ chức tín dụng chiếm khoảng 35%, đồng thời là hai chủ thể chính hiện nay.

Đồng thời, cần phải sớm hoàn thiện hành lang pháp lý để thị trường trái phiếu DN phát triển bền vững. Trong đó, các cơ quan chức năng cần mở rộng giáo dục đầu tư tài chính đối với nhà đầu tư cá nhân, bởi hiện nay đối tượng này đang bị bỏ ngỏ.

Bài và ảnh Duy Khánh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.210 23.520 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.225 23.505 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.220 23.520 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.200 23.490 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.260 23.480 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.250 23.480 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.255 23.707 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.234 23.520 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.210 23.490 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.280 23.530 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
67.650
68.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
67.650
68.250
Vàng SJC 5c
67.650
68.270
Vàng nhẫn 9999
52.200
53.150
Vàng nữ trang 9999
52.050
52.750