Điểm lại thông tin kinh tế ngày 23/3

08:11 | 24/03/2021

Ngày 23/3, lãi suất chào bình quân LNH VND giữ nguyên ở tất cả các kỳ hạn từ 1M trở xuống so với phiên trước đó, cụ thể: ON 0,30%; 1W 0,40%; 2W 0,48% và 1M 0,67%; Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index giảm 10,98 điểm (-0,92%) xuống 1.183,45 điểm...

diem lai thong tin kinh te ngay 233 112827 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 22/3
diem lai thong tin kinh te ngay 233 112827 Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 15-19/3

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ: Phiên 23/03, NHNN niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.197 VND/USD, giảm 07 đồng so với phiên trước đó. Tỷ giá mua kỳ hạn 6 tháng được niêm yết ở mức 23.125 VND/USD. Tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.843 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với trần tỷ giá. Trên thị trường LNH, tỷ giá chốt phiên ở mức 23.089 VND/USD, tăng 13 đồng so với phiên 22/03. Tỷ giá trên thị trường tự do tăng 10 đồng ở chiều mua vào trong khi không thay đổi ở chiều bán ra, giao dịch tại 23.930 - 23.980 VND/USD.

Thị trường tiền tệ LNH: Ngày 23/03, lãi suất chào bình quân LNH VND giữ nguyên ở tất cả các kỳ hạn từ 1M trở xuống so với phiên trước đó, cụ thể: ON 0,30%; 1W 0,40%; 2W 0,48% và 1M 0,67%. Lãi suất chào bình quân LNH USD không thay đổi ở kỳ hạn ON trong khi giảm 0,01 – 0,02 đpt ở các kỳ hạn còn lại, giao dịch tại: ON 0,15%; 1W 0,19%; 2W 0,25%, 1M 0,33%. Lợi suất TPCP trên thị trường thứ cấp giảm ở tất cả các kỳ hạn, cụ thể: 3Y 0,65%; 5Y 1,10%; 7Y 1,53%; 10Y 2,42%; 15Y 2,62%.

Nghiệp vụ thị trường mở: Phiên hôm qua, NHNN tiếp tục chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố với kỳ hạn 07 ngày, lãi suất ở mức 2,50%. Không có khối lượng trúng thầu, không có khối lượng lưu hành trên kênh này.

Thị trường chứng khoán: Hôm qua, nhiều cổ phiếu trụ cột giảm giá ngay từ đầu phiên giao dịch, tác động tiêu cực đến các chỉ số thị trường. Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index giảm 10,98 điểm (-0,92%) xuống 1.183,45 điểm; HNX-Index giảm 2,5 điểm (-0,91%) xuống 272,34 điểm; UPCoM-Index giảm 0,14 điểm (-0,17%) xuống 81,14 điểm. Thanh khoản thị trường vẫn ở mức cao với tổng trị giá giao dịch đạt gần 19.000 tỷ đồng. Các nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục bán ròng hơn 279 tỷ đồng trên cả 3 sàn.

Tin quốc tế

Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ Janet Yellen và Chủ tịch Fed Jerome Powell cho rằng cần tiếp tục thúc đẩy quá trình hồi phục kinh tế. Trong buổi điều trần trước Ủy ban Tài chính Hạ viện Mỹ, bà Yellen và ông Powell cùng cho rằng nước Mỹ đang có nhiều tín hiệu hồi phục tích cực, song giới chức nước này cần tiếp tục hỗ trợ vì vẫn còn hàng triệu người Mỹ đang thất nghiệp. Bà Yellen khẳng định tỷ lệ thất nghiệp thực tế có thể lên tới 9,5%.

Bên cạnh đó, bà cho biết giới chức đang cân nhắc nâng mức thuế doanh nghiệp từ 21% lên 28%, lật ngược chính sách mà cựu Tổng thống Donald Trump đã áp dụng trước đó (cắt giảm từ 35% xuống 21% năm 2017). Về phía Chủ tịch Fed, ông Powell tái khẳng định nước Mỹ còn cách xa mức hồi phục hoàn toàn, chính sách tiền tệ của Fed được đưa ra nhằm đạt được hai mục tiêu chính là toàn dụng nhân công và lạm phát mục tiêu bền vững. Ông cho biết lạm phát sẽ tăng lên trong năm 2021, nhưng ở góc nhìn tích cực nhất sẽ không quá lớn và dai dẳng.

Doanh số bán nhà mới tại Mỹ ở mức 775 nghìn căn trong tháng 2, thấp hơn khá nhiều so với mức 948 nghìn căn của tháng trước đó, đồng thời thấp hơn mức 880 nghìn căn theo kỳ vọng. Đây cũng là tháng có doanh số thấp nhất trong vòng 8 tháng trở lại đây. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm 2020, doanh số vẫng tăng khoảng 8,2%. Giá nhà mới trung bình tại Mỹ trong tháng vừa qua ở khoảng 349,4 nghìn USD/căn, giảm nhẹ so với tháng đầu năm.

Nước Anh đón một số thông tin trái chiều về thị trường lao động. Đầu tiên, thu nhập bình quân tại nước này trong 3 tháng 11-12/2020 và 01/2021 tăng 4,8% 3m/y; cao hơn so với mức tăng 4,7% của 3 tháng 10-11-12/2020, tuy nhiên chưa đạt mức tăng 4,9% như kỳ vọng. Tiếp theo, số đơn xin trợ cấp thất nghiệp tại nước Anh trong tháng 1 tăng thêm 86,6 nghìn đơn sau khi giảm 20,8 nghìn đơn ở tháng trước đó, vượt mạnh mức tăng 9,0 nghìn theo dự báo. Cuối cùng, tỷ lệ thất nghiệp tại quốc gia này ở mức 5,0% trong tháng 1; giảm xuống từ mức 5,1% của tháng trước đó và trái với dự báo tăng lên mức 5,2%.

Tỷ giá ngày 23/03: USD = 0.844 EUR (0.69% d/d); EUR = 1.185 USD (-0.69% d/d); USD = 0.727 GBP (0.82% d/d); GBP = 1.375 USD (-0.82% d/d).

P.L

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.910 23.140 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.930 23.130 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.903 23.123 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.895 23.105 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.930 23.110 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.930 23.110 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.930 23.145 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.905 23.125 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.930 23.110 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.940 23.100 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.450
57.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.450
57.000
Vàng SJC 5c
56.450
57.020
Vàng nhẫn 9999
51.600
52.200
Vàng nữ trang 9999
51.200
51.900