Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 22-26/2

07:41 | 01/03/2021

Trong tuần từ 22/02 - 26/02, tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh tăng – giảm đan xen qua các phiên trong tuần. Chốt phiên 26/02, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 23.130 VND/USD, chỉ giảm 04 đồng so với phiên cuối tuần trước đó; Thị trường chứng khoán tuần qua HOSE giảm nhẹ trong khi sàn HNX bật tăng mạnh. Chốt phiên 26/02, VN-Index giảm 5,03 điểm (-0,43%) xuống mức 1.168,47 điểm...

diem lai thong tin kinh te tuan tu 22 262 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 25/2
diem lai thong tin kinh te tuan tu 22 262 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 24/2
diem lai thong tin kinh te tuan tu 22 262 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 23/2

Tổng quan

Chỉ số giá tiêu dùng CPI tháng 2/2021 tăng ở mức cao nhất của tháng 2 trong 8 năm, 2 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa cả nước tăng 23,2% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng cục Thống kê vừa chính thức công bố, chỉ số giá tiêu dùng CPI tháng 2/2021 tăng tới 1,52% so với tháng trước. Đây là mức tăng cao nhất của chỉ số giá tháng Hai trong 8 năm gần đây (từ năm 2014 tới nay, CPI các tháng 2 tăng/giảm lần lượt là 2014 +0,55%; 2015 -0,05%; 2016 +0,42%; 2017 +0,23%; 2018 +0,73%; 2019 +0,8%; 2020 -0,17%; 2021 +1,52%). Theo Tổng cục Thống kê, CPI tháng 2/2021 tăng cao bởi đây là tháng Tết Nguyên đán, nhu cầu tiêu dùng tăng cao.

Bên cạnh đó, việc Tập đoàn Điện lực Việt Nam kết thúc chương trình hỗ trợ giảm giá điện, tiền điện cho khách hàng; giá lương thực, thực phẩm, ăn uống ngoài gia đình và giá dịch vụ giao thông công cộng tăng trong dịp Tết Nguyên đán là những nguyên nhân chính làm CPI tháng 2/2021 tăng cao so với tháng trước và so với tháng 12 năm trước (+1,58%). Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 2 chỉ tăng 0,70%. Đây là mức thấp nhất kể từ năm 2016 đến nay (CPI tháng 2 so với cùng kỳ năm trước các năm 2016-2021 lần lượt là: 2016 +1,27%; 2017 +5,02%; 2018 +3,15%; 2019 +2,64%; 2020 +5,4%; 2021 +0,70%.

Mặc dù CPI tháng 2 năm nay tăng cao so với tháng trước, song bình quân 2 tháng đầu năm 2021, CPI giảm 0,14% so với cùng kỳ năm trước. Áp lực giá cả trong hai tháng đầu năm ngoái là lớn hơn so với hai tháng đầu năm nay.

Trong rổ hàng hóa tính CPI, có 10 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng và 1 nhóm hàng giữ ổn định giá so với tháng trước. Cụ thể, Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng có mức tăng cao nhất với 4% (làm CPI chung tăng 0,75 đpt). Trong đó, chỉ riêng việc giá điện sinh hoạt tháng 2 tăng 20,06% cũng đã tác động làm CPI chung tăng 0,66 đpt. Tiếp đó, Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,61%, nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng tăng mạnh trong dịp Tết Nguyên đán. Trong đó, lương thực tăng 1,77%; thực phẩm tăng 1,82%, làm CPI chung tăng 0,39 đpt; còn ăn uống ngoài gia đình tăng 1,01%. Do đợt điều chỉnh giá xăng dầu vào cuối tháng 1/2021, cộng thêm nhu cầu đi lại trong dịp Tết tăng cao, nên trong tháng 2/2021, Nhóm giao thông tăng 1,55%.

Ngoài ra, Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,9%; Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,2%; Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,13%; Nhóm bưu chính - viễn thông tăng 0,03%; Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; Nhóm hàng hóa, dịch vụ khác tăng 0,74%. Riêng nhóm giáo dục không thay đổi. Ở góc độ khác, Tổng cục Thống kê cho biết, lạm phát cơ bản tháng 02/2021 tăng 0,48% so với tháng trước và tăng 0,79% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 2 tháng đầu năm nay tăng 0,64% so với bình quân cùng kỳ năm 2020.

Hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam 2 tháng đầu năm nay đạt mức tăng cao. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 2 tháng đầu năm nay ước tính đạt 95,81 tỷ USD, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 48,55 tỷ USD, tăng 23,2%; nhập khẩu đạt 47,26 tỷ USD, tăng 25,9%.

Cán cân thương mại hàng hóa 2 tháng đầu năm ước tính xuất siêu 1,29 tỷ USD. Kim ngạch XK hàng hóa tháng 02/2021 ước tính đạt 20 tỷ USD, giảm 29,9% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 4,65 tỷ USD, giảm 31,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 15,35 tỷ USD, giảm 29,3%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch XK hàng hóa tháng 2 giảm 4,7%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 15,1%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) giảm 1%. Tính chung 2 tháng đầu năm 2021, kim ngạch XK hàng hóa ước tính đạt 48,55 tỷ USD, tăng 23,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 11,48 tỷ USD, tăng 4,4%, chiếm 23,6% tổng kim ngạch XK; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 37,07 tỷ USD, tăng 30,5%, chiếm 76,4%.

Kim ngạch NK hàng hóa tháng 02/2021 ước tính đạt 20,8 tỷ USD, giảm 21,4% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 6,75 tỷ USD, giảm 23,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 14,05 tỷ USD, giảm 20,1%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch NK hàng hóa tháng 2 tăng 10,5%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 3,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,2%. Tính chung 2 tháng đầu năm 2021, kim ngạch NK hàng hóa ước tính đạt 47,26 tỷ USD, tăng 25,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 15,62 tỷ USD, tăng 16%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 31,64 tỷ USD, tăng 31,4%.

Tóm lược thị trường trong nước từ 22/02 - 26/02

Thị trường ngoại tệ: Trong tuần từ 22/02 - 26/02, tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh tăng – giảm đan xen qua các phiên trong tuần. Vì vậy, chốt phiên 26/02, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 23.130 VND/USD, chỉ giảm 04 đồng so với phiên cuối tuần trước đó. Tỷ giá mua kỳ hạn 6 tháng được duy trì niêm yết ở mức 23.125 VND/USD. Tỷ giá bán được NHNN niêm yết ở mức thấp hơn 50 đồng so với trần tỷ giá, chốt ngày 26/02 ở mức 23.774 VND/USD.

Tỷ giá LNH cũng biến động tăng - giảm trong tuần qua. Chốt phiên 26/02, tỷ giá LNH đóng cửa tại 23.020 VND/USD, tăng 11 đồng so với phiên 19/02.

Tỷ giá trên thị trường tự do tiếp tục tăng trong tuần qua, tuy đà tăng đã chậm lại. Chốt phiên 26/02, tỷ giá tự do tăng 70 đồng ở chiều mua vào và 60 đồng ở chiều bán ra so với phiên cuối tuần trước đó, giao dịch tại 23.820 – 23.860 VND/USD.

Thị trường tiền tệ LNH: Trong tuần từ 22/02 - 26/02, lãi suất VND LNH giảm mạnh 2 phiên đầu tuần, đà giảm đã chững lại ở các phiên còn lại. Chốt phiên 26/02, lãi suất VND LNH giao dịch quanh mức: ON 0,40% (-0,33 đpt); 1W 0,50% (-0,33 đpt); 2W 0,66% (-0,33 đpt); 1M 0,90% (-0,26 đpt).

Trong khi đó, lãi suất USD LNH vẫn ít biến động trong tuần vừa qua, chốt tuần 26/02 không thay đổi ở tất cả các kỳ hạn từ 1M trở xuống, đóng cửa tại: ON 0,15; 1W 0,20%; 2W 0,26% và 1M 0,35%.

Thị trường mở: Trên thị trường mở tuần từ 22/02 - 26/02, NHNN chào thầu 1.000 tỷ đồng/phiên trên kênh cầm cố, với kỳ hạn 07 ngày, lãi suất đều ở mức 2,50%. Không có khối lượng trúng thầu, trong tuần có 26.629,3 tỷ đồng đáo hạn. Như vậy, NHNN hút ròng có 26.629,3 tỷ đồng từ thị trường trong tuần qua, không còn khối lượng lưu hành trên kênh này.

NHNN tiếp tục không chào thầu tín phiếu NHNN.

Thị trường trái phiếu: Trong phiên đấu thầu TPCP ngày 24/02, KBNN huy động thành công 635/6.000 tỷ đồng TPCP gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu 10%). Trong đó, kỳ hạn 5 năm huy động được toàn bộ 500 tỷ đồng, kỳ hạn 30 năm huy động được 135/500 tỷ đồng, kỳ hạn 10 năm và 15 năm đấu thầu thất bại. Lãi suất trúng thầu kỳ hạn 10 năm tại 1,03%/năm (-0,04 đpt); kỳ hạn 30 năm giữ nguyên tại 3,01%/năm. Có 2.000 tỷ đồng TPCP đáo hạn trong tuần qua. Tuần từ 01-05/03, KBNN gọi thầu 6.000 tỷ đồng TPCP (chưa bao gồm đấu thầu bổ sung). Trong tuần này có 6.000 tỷ đồng TPCP đáo hạn.

Trong tuần từ 22 - 26/02, giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp tuần qua đạt trung bình 14.905 tỷ đồng/phiên, tăng mạnh từ mức 10.373 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Lợi suất TPCP tăng nhẹ ở hầu hết các kỳ hạn, ngoại trừ kỳ hạn 2 năm. Chốt phiên 26/02, lợi suất TPCP giao dịch quanh 1 năm 0,27% (+0,02 đpt); 2 năm 0,54% (-0,03 đpt); 3 năm 0,68% (+0,03 đpt); 5 năm 1,09% (+0,04 đpt); 7 năm 1,48% (+0,14 đpt); 10 năm 2,36% (+0,13 đpt); 15 năm 2,56% (+0,13 đpt); 30 năm 3,09% (+0,01 đpt).

Thị trường chứng khoán: Thị trường chứng khoán tuần từ 22/02 - 26/02 trái chiều khi sàn HOSE giảm nhẹ trong khi sàn HNX bật tăng mạnh. Chốt phiên 26/02, VN-Index giảm 5,03 điểm (-0,43%) xuống mức 1.168,47 điểm; HNX-Index đóng cửa tăng mạnh 18,04 điểm (+7,80%) đạt 249,22 điểm; UPCOM-Index tăng 0,51 điểm (+0,67%) lên 76,64 điểm.

Thanh khoản thị trường ở mức cao tương đương tuần trước đó với giá trị giao dịch đạt gần 17.500 tỷ đồng/phiên. Khối ngoại bán ròng hơn 448 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong tuần qua.

Tin quốc tế

Trong tuần qua, Hạ viện Mỹ phê chuẩn kế hoạch cứu trợ 1.900 tỷ USD của Tổng thống Joe Biden. Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Jerome Powell tiếp tục trấn an thị trường về chính sách tiền tệ nới lỏng. Hồi đầu tháng 02/2020, lưỡng viện Mỹ thông qua dự thảo ngân sách cho phép đáp ứng gói cứu trợ Covid-19 do tân Tổng thống Mỹ Joe Biden đề xuất trị giá 1.900 tỷ USD. Trong tuần qua, ngày 27/02, Hạ viện Mỹ thông qua kế hoạch cứu trợ này với 219 phiếu thuận và 212 phiếu chống.

Theo dự định, gói cứu trợ trên gồm trợ cấp 1.400 USD cho mỗi người dân Mỹ, gia hạn trợ cấp thất nghiệp khẩn cấp, tài trợ tiêm chủng và xét nghiệm Covid-19, tăng lương tối thiểu lên 15 USD/giờ vào năm 2025. Gói cứu trợ trên sẽ cần sự chấp thuận của Thượng viện Mỹ để chính thức được ban hành. Về Chủ tịch Fed Jerome Powell, ông có phiên điều trần trước Quốc hội Mỹ vào thứ Tư vừa qua. Người đứng đầu Fed khẳng định kinh tế quốc nội Mỹ vẫn phụ thuộc rất mạnh vào quá trình khống chế dịch bệnh, hiện vẫn còn đối mặt với rất nhiều bất ổn, và còn xa cho tới thời điểm phục hồi hoàn toàn.

Bên cạnh đó, Fed sẽ không đơn thuần thắt chặt lãi suất khi đạt mục tiêu toàn dụng nhân công, mà cơ quan này vẫn luôn hướng tới mục tiêu lạm phát ở trên mức 2,0% một cách vừa phải trong một thời gian nhất định. Điều này sẽ giúp cho Fed đạt được cả mục tiêu về ổn định giá cả và thị trường lao động vững mạnh trong dài hạn.

Mỹ đón mốt số thông tin kinh tế trái chiều. Về thông tin tích cực, GDP nước Mỹ quý 4/2020 được báo cáo sơ bộ lần hai cho thấy mức tăng 4,1% q/q; điều chỉnh lên nhẹ so với mức tăng 4,0% của báo cáo lần một. Tiếp theo, giá trị đơn đặt hàng hàng hóa lâu bền lõi và hàng hóa lâu bền chung của Mỹ lần lượt tăng mạnh 1,4% và 3,4% m/m trong tháng 01/2021, nối tiếp đà tăng 1,1% và 0,5% ở tháng trước đó, vượt nhiều so với kỳ vọng tăng 0,6% và 0,9%.

Về thị trường lao động, số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tuần kết thúc ngày 20/02 ở mức 730 nghìn đơn, giảm mạnh từ 841 nghìn đơn tuần trước đó, tích cực hơn nhiều so với dự báo ở mức 828 nghìn đơn. Niềm tin tiêu dùng tại Mỹ được Conference Board khảo sát được ở mức 91,3 điểm trong tháng 02/2021, tăng lên từ 88,9 điểm của tháng 01/2021, vượt qua kỳ vọng ở mức 90,2 điểm. Doanh số bán nhà mới tại Mỹ đạt 923 nghìn căn trong tháng 02/2021, cao hơn mức 885 nghìn căn của tháng trước đó, đồng thời cao hơn mức 853 nghìn căn theo dự báo. Về thông tin tiêu cực, số nhà chờ bán tại nước Mỹ giảm 2,8% m/m trong tháng 01/2021 sau khi tăng 0,5% ở tháng trước đó, trái chiều so với kỳ vọng tiếp tục tăng 0,2%. Cuối cùng, thu nhập bình quân của người dân Mỹ tăng 2,4% m/m trong tháng 01/2021 sau khi giảm 0,4% ở tháng trước đó, chưa đạt so với dự báo tăng 2,6%.

Thị trường lao động nước Anh đón một số thông tin trái chiều. Đầu tiên, Văn phòng Thống kê Quốc gia Anh cho biết số đơn xin trợ cấp thất nghiệp tại quốc gia này giảm 20 nghìn đơn trong tháng 01/2021, nối tiếp đà giảm 20,4 nghìn đơn ở tháng trước đó, trái với dự báo sẽ tăng thêm 13,8 nghìn đơn của các chuyên gia. Bên cạnh đó, thu nhập bình quân của nước Anh trong 3 tháng 10-11-12/2020 tăng 4,7% 3m/y; cao hơn mức 3,7% của 3 tháng 09-10-11/2020 và vượt qua mức tăng 4,1% theo kỳ vọng. Cuối cùng, tỷ lệ thất nghiệp tại nước Anh ở mức 5,1% trong tháng 12/2020; tăng lên từ mức 5,0% của tháng trước đó và khớp với dự báo.

P.L

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.955 23.165 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.970 23.170 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.963 23.173 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.150 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.960 23.182 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.968 23.168 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.450
55.820
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.450
55.800
Vàng SJC 5c
55.450
55.820
Vàng nhẫn 9999
51.700
52.300
Vàng nữ trang 9999
51.300
52.000