Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 23-27/12

07:30 | 30/12/2019

Ngân hàng Nhà nước hút ròng 19.520 tỷ đồng. Kết thúc tuần ngày 27/12, VN-Index đứng ở mức 963,51 điểm, tăng 7,10 điểm (+0,74%) so với tuần trước đó; HNX-Index tăng 0,18 điểm (+0,18%) lên 102,60 điểm; UPCOM-Index tăng 0,14 điểm (+0,25%) lên mức 55,81 điểm. Thanh khoản thị trường sụt giảm. Khối ngoại mua ròng hơn 260 tỷ đồng.

diem lai thong tin kinh te tuan tu 23 2712 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 26/12
diem lai thong tin kinh te tuan tu 23 2712 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 25/12
diem lai thong tin kinh te tuan tu 23 2712 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 24/12
diem lai thong tin kinh te tuan tu 23 2712 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 23/12
diem lai thong tin kinh te tuan tu 23 2712

Tổng quan

Kinh tế Việt Nam 2019 cho thấy sự phát triển vững chắc khi tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng và tăng trưởng xuất nhập khẩu của cả nước đều tích cực.

Theo Tổng Cục thống kê, GDP năm 2019 đạt 7,02%, vượt mục tiêu Quốc hội đặt ra từ 6,6 - 6,8%. Trong đó, quý I tăng 6,82%, quý II tăng 6,73%, quý III tăng 7,48%, quý IV tăng 6,97%.

Đây là năm thứ 2 liên tiếp tăng trưởng kinh tế Việt nam đạt trên 7% kể từ năm 2011. Động lực tăng trưởng chính của kinh tế năm 2019 tiếp tục là ngành công nghiệp chế biến chế tạo (tăng 11,29%) và các ngành dịch vụ thị trường (vận tải kho bãi tăng 9,12%, bán buôn bán lẻ tăng 8,82%, hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm tăng 8,62%).

Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông - lâm - thuỷ sản tăng 2,01%, đóng góp 4,6% vào mức tăng chung; Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,9%, đóng góp 50,4%; Dịch vụ tăng 7,3% đóng góp 45%. Mức tăng trưởng năm 2019 tuy thấp hơn mức tăng 7,08% của năm 2018 nhưng cao hơn các năm 2011-2017 (Tốc độ tăng GDP các năm 2011-2019 lần lượt là: Năm 2011 tăng 6,24%; năm 2012 tăng 5,25%; năm 2013 tăng 5,42%; năm 2014 tăng 5,98%; năm 2015 tăng 6,68%; năm 2016 tăng 6,21%; năm 2017 tăng 6,81%).

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2019 tăng mạnh 1,4% so với tháng trước, mức tăng cao nhất của chỉ số giá tháng 12 trong 9 năm gần đây.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu, 10 nhóm có CPI tháng 12 tăng so với tháng trước, trong đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao nhất 3,42%, chủ yếu do nhóm thực phẩm tăng 4,41% (làm CPI chung tăng 1%); lương thực tăng 0,45%; ăn uống ngoài gia đình tăng 2,44% do ảnh hưởng của nhóm thực phẩm tăng (làm CPI chung tăng 0,22%). Nhóm giao thông tăng 0,61% do ảnh hưởng từ đợt điều chỉnh tăng giá xăng, dầu vào thời điểm 30/11/2019 và điều chỉnh giảm vào thời điểm 16/12/2019 làm giá xăng, dầu tăng 1,27% (tác động làm CPI chung tăng 0,05%).

CPI bình quân năm 2019 tăng 2,79% so với bình quân năm 2018, dưới mục tiêu Quốc hội đề ra, đây cũng là mức tăng bình quân năm thấp nhất trong 3 năm qua.

CPI bình quân năm 2019 tăng do một số nguyên nhân chủ yếu sau: (i) Giá điện sinh hoạt điều chỉnh tăng theo Quyết định số 648/QĐ-BCT ngày 20/3/2019 của Bộ Công Thương, cùng với nhu cầu tiêu dùng điện tăng vào dịp Tết và thời tiết nắng nóng trong quý II và quý III làm giá điện sinh hoạt tăng 8,38%; (ii) Các địa phương điều chỉnh giá dịch vụ y tế, dịch vụ khám chữa bệnh theo Thông tư số 13/2019/TT-BYT và Thông tư số 14/2019/TT-BYT làm giá dịch vụ y tế tăng 4,65% (tác động làm CPI chung tăng 0,18%); (iii) Tiếp tục thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP làm chỉ số giá nhóm dịch vụ giáo dục năm 2019 tăng 6,11% so với năm 2018 (tác động làm CPI tăng 0,32%); (iv) Việc tăng giá sách giáo khoa năm học 2019-2020 của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam làm chỉ số giá nhóm văn phòng phẩm tăng 3,32% so với cùng kỳ năm trước; (v) Ngoài ra còn một số yếu tố về thị trường, như giá nhóm hàng thực phẩm tăng 5,08% (giá thịt lợn bình quân năm 2019 tăng 11,79%); giá các mặt hàng đồ uống, thuốc lá tăng khoảng 1,79%; quần áo may sẵn các loại tăng 1,7%; giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 3,02%…

Bên cạnh đó, một số yếu tố góp phần kiềm chế CPI: Giá xăng, dầu trong nước chịu ảnh hưởng của biến động giá nhiên liệu trên thị trường thế giới; Tính từ thời điểm 1/1/2019 đến thời điểm 20/12/2019, giá dầu Brent bình quân năm 2019 trên thị trường thế giới giảm 10,28% so với năm 2018, theo đó giá xăng, dầu trong nước giảm 3,13% (làm CPI chung giảm 0,15%); giá gas sinh hoạt trong nước điều chỉnh giảm 5,98%; giá đường giảm 3,17%.

Lạm phát cơ bản tháng 12/2019 tăng 0,68% so với tháng trước và tăng 2,78% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân năm 2019 tăng 2,01% so với bình quân năm 2018.

Về thương mại, cán cân thương mại hàng hóa năm 2019 ước tính xuất siêu 9,9 tỷ USD, mức cao nhất trong 4 năm liên tiếp. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2019 ước tính đạt 516,96 tỷ USD. Cụ thể, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 12 ước tính đạt 21,80 tỷ USD, giảm 4,4% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 7,32 tỷ USD, giảm 2,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 14,48 tỷ USD, giảm 5,3%.

Tính chung cả năm 2019, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 263,45 tỷ USD, tăng 8,1% so với năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 82,10 tỷ USD, tăng 17,7%, chiếm 31,2% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 181,35 tỷ USD, tăng 4,2%, chiếm 68,8% (tỷ trọng giảm 2,5 điểm phần trăm so với năm trước).

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 12/2019 ước tính đạt 22,80 tỷ USD, tăng 6,8% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 10,15 tỷ USD, tăng 5,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 12,65 tỷ USD, tăng 7,6%.

Tính chung năm 2019, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 253,51 tỷ USD, tăng 7% so với năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 108,01 tỷ USD, tăng 13,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 145,50 tỷ USD, tăng 2,5%.

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ trong tuần từ 23-27/12, tỷ giá trung tâm tiếp tục được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng - giảm qua các phiên, riêng phiên cuối tuần tăng khá mạnh 7 đồng. Chốt tuần 27/12, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 23.169 VND/USD, tăng 9 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.

Tỷ giá mua giao ngay được Ngân hàng Nhà nước niêm yết ở mức 23.175 VND/USD. Tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.814 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với trần tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước.

Tỷ giá liên ngân hàng trong tuần qua tiếp tục dao động nhẹ như tuần trước đó xung quanh mức tỷ giá mua của Ngân hàng Nhà nước. Kết thúc phiên cuối tuần 27/12, tỷ giá liên ngân hàng đóng cửa tại 23.174 VND/USD, tăng 4 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.

Tỷ giá trên thị trường tự do có xu hướng giảm nhẹ trong tuần vừa qua, chốt phiên cuối tuần giảm 25 đồng ở chiều mua vào và 10 đồng ở chiều bán ra so với cuối tuần trước đó, giao dịch tại 23.170 - 23.200 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng tuần từ 23-27/12, lãi suất VND liên ngân hàng giảm mạnh trong 3 phiên đầu tuần và phục hồi nhẹ trở lại 2 phiên cuối tuần ở các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống giúp thu hẹp đà giảm. Phiên cuối tuần 27/12, lãi suất VND liên ngân hàng giao dịch quanh mức: qua đêm 1,77% (-0,53 điểm phần trăm); 1 tuần 2,47% (-0,26 điểm phần trăm); 2 tuần 3,18% (-0,03 điểm phần trăm); 1 tháng 3,72% (-0,08 điểm phần trăm).

Lãi suất USD liên ngân hàng biến động tăng - giảm nhẹ ở tất cả các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống qua các phiên. Cuối tuần 27/12, lãi suất đứng ở mức qua đêm 1,79% (không thay đổi); 1 tuần 1,87% (-0,01 điểm phần trăm), 2 tuần 1,94% (-0,01 điểm phần trăm) và 1 tháng 2,09% (-0,03 điểm phần trăm).

Thị trường mở tuần từ 23-27/12, trên thị trường mở, Ngân hàng Nhà nước đều đặn chào thầu 3.000 tỷ đồng/phiên trên kênh cầm cố, 2 phiên đầu tuần với kỳ hạn 7 ngày, 3 phiên cuối tuần kỳ hạn 14 ngày. Lãi suất chào thầu đều ở mức 4,0%. Tuy nhiên, không có khối lượng trúng thầu trong tuần, trong khi có 19.520 tỷ đồng đáo hạn trên kênh này.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 19.520 tỷ đồng từ thị trường thông qua kênh cầm cố trong tuần vừa qua, đưa khối lượng lưu hành trên kênh này về 0.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục không chào thầu tín phiếu trong tuần qua.

Trên thị trường trái phiếu, giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường trái phiếu thứ cấp tuần qua đạt trung bình 11.641 tỷ đồng, tăng khá mạnh so với mức hơn 9.422 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó.

Lợi suất trái phiếu chính phủ tuần qua đồng loạt giảm so với tuần trước đó. Cụ thể, lợi suất trái phiếu chính phủ phiên cuối tuần 27/12 giao dịch quanh 1 năm 1,43% (-0,15 điểm phần trăm); 2 năm 1,61% (-0,08 điểm phần trăm); 3 năm 1,75% (-0,07 điểm phần trăm); 5 năm 1,92% (-0,09 điểm phần trăm); 7 năm 2,84% (-0,23 điểm phần trăm); 10 năm 3,42% (-0,10 điểm phần trăm); 15 năm 3,58% (-0,08 điểm phần trăm).

Thị trường chứng khoán tuần qua hồi phục nhẹ trở lại khi cả 3 chỉ số đều chốt tuần trên mức tham chiếu. Kết thúc tuần ngày 27/12, VN-Index đứng ở mức 963,51 điểm, tăng 7,10 điểm (+0,74%) so với tuần trước đó; HNX-Index tăng 0,18 điểm (+0,18%) lên 102,60 điểm; UPCOM-Index tăng 0,14 điểm (+0,25%) lên mức 55,81 điểm.

Thanh khoản thị trường sụt giảm so với tuần trước đó với giá trị giao dịch đạt khoảng trên 4.400 tỷ đồng/phiên. Khối ngoại mua ròng hơn 260 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong tuần vừa qua.

diem lai thong tin kinh te tuan tu 23 2712
VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Tin quốc tế

Trong tuần vừa qua, hầu hết các thị trường lớn đóng cửa nghĩ lễ Giáng sinh, tuy nhiên Tổng thống Mỹ Donald Trump vẫn viết trên trang cá nhân cho biết sẽ sớm ký kết thỏa thuận với Trung Quốc. Ở phía ngược lại, Bộ Thương mại Trung Quốc cũng thông báo đã chủ động tích cực liên lạc với Mỹ nhằm giải quyết những bất đồng giữa hai nước.

Liên quan đến thông tin kinh tế Mỹ, giá trị đơn đặt hàng hàng hóa lâu bền lõi của nước này không tăng trưởng trong tháng 11 sau khi tăng 0,5% ở tháng 10, trái với dự báo tiếp tục tăng 1,5%. Cùng với đó, giá trị đơn đặt hàng hàng hóa lâu bền chung giảm mạnh 2,0% so với tháng trước trong tháng vừa qua sau khi tăng 0,5% ở tháng 10, trái dự báo tăng nhẹ 0,2%. Số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tuần kết thúc ngày 21/12 ở mức 222 nghìn đơn, thấp hơn mức 235 nghìn đơn của tuần trước đó nhưng khớp với dự báo của các chuyên gia.

PL

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950