Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 28/11-2/12

08:07 | 05/12/2022

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 11 tháng năm 2022 tăng 3,02% so với cùng kỳ; lãi suất VND liên ngân hàng giảm khá mạnh trở lại ở các kỳ hạn ngắn trong khi ít biến động ở các kỳ hạn 2 tuần và 1 tháng; VN-Index đứng ở mức 1.080,01 điểm, tăng mạnh tới 108,55 điểm (+11,17%) so với cuối tuần trước đó là những thông tin kinh tế nổi bật tuần qua.

diem lai thong tin kinh te tuan tu 2811 212 Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 21-25/11
diem lai thong tin kinh te tuan tu 2811 212 Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 14-18/11

Tổng quan

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 11 tháng năm 2022 tăng 3,02% so với cùng kỳ năm 2021. Như vậy, mục tiêu lạm phát 4% trong năm nay là khả thi.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chỉ số giá tiêu dùng CPI tháng 11/2022 tăng 0,39% so với tháng trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, 8 nhóm hàng có chỉ số tăng giá, mạnh nhất là nhóm giao thông với mức tăng 2,23%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,97%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,26%; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,22%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,22%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,21%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,21%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06%. Ba nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm gồm: nhóm giáo dục giảm 0,63%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,07%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,02%.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 11 tháng năm 2022 tăng 3,02% so với cùng kỳ năm 2021. Tổng cục Thống kê nêu một số nguyên nhân làm tăng CPI trong 11 tháng năm 2022. Trong 11 tháng năm nay, giá xăng dầu được điều chỉnh 31 đợt, làm cho giá xăng A95 tăng 490 đồng/lít so với cuối năm 2021; xăng E5 tăng 120 đồng/lít; giá dầu diezen tăng 7.230 đồng/lít; dầu hỏa tăng 8.130 đồng/lít. Tính bình quân 11 tháng năm nay so với cùng kỳ năm trước, giá xăng dầu trong nước tăng 31,76%, tác động làm CPI chung tăng 1,14 đpt. Giá gas trong nước biến động theo giá gas thế giới, giá gas 11 tháng năm nay tăng 12,76% so với cùng kỳ năm trước, góp phần làm CPI chung tăng 0,19 đpt.

Dịch Covid-19 được kiểm soát, nhu cầu ăn ngoài nhà hàng tăng nên giá ăn uống ngoài gia đình bình quân 11 tháng tăng 4,78% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI chung tăng 0,41 đpt. Nhà ở và VLXD 11 tháng năm nay tăng 2,75% so với cùng kỳ năm trước do giá xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá NNVL đầu vào, tác động làm CPI chung tăng 0,52 đpt. Giá gạo trong nước tăng theo giá gạo XK làm cho giá gạo 11 tháng tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI chung tăng 0,03 đpt. Giá các mặt hàng thực phẩm 11 tháng năm 2022 tăng 1,32% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI tăng 0,28 đpt. Giá dịch vụ giáo dục tăng 0,47% do một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng học phí năm học 2022-2023, làm CPI chung tăng 0,03 đpt.

Ở chiều ngược lại, một số nguyên nhân làm giảm CPI trong 11 tháng năm 2022 bao gồm: Giá thịt lợn giảm 12,22% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI chung giảm 0,41 đpt do dịch tả lợn châu Phi được kiểm soát và nguồn cung lợn đảm bảo; Giá nhà ở thuê giảm 4,64% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI chung giảm 0,02 đpt, giá giảm chủ yếu trong các tháng đầu năm do ảnh hưởng của dịch Covid-19; Giá bưu chính viễn thông giảm 0,38% so với cùng kỳ năm trước do giá điện thoại di động và dịch vụ sửa chữa điện thoại giảm.

Lạm phát cơ bản tháng 11/2022 tăng 0,43% so với tháng trước, tăng 4,81% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng CPI bình quân chung chủ yếu do giá thực phẩm tươi sống là yếu tố kiềm chế tốc độ tăng CPI trong tháng 11 năm nay thuộc nhóm hàng được loại trừ trong danh mục tính toán lạm phát cơ bản. Bình quân 11 tháng năm 2022, lạm phát cơ bản tăng 2,38% so với cùng kỳ năm 2021, thấp hơn mức CPI bình quân chung (tăng 3,02%), điều này phản ánh biến động giá tiêu dùng chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm và giá xăng, dầu. Từ nay đến cuối năm, theo Tổng Cục Thống kê, nếu giá xăng, dầu tương đối ổn định, cung cầu hàng hóa duy trì ở mức hợp lý, lưu thông được thông suốt và thị trường không có những đột biến lớn thì khả năng CPI cả năm nay sẽ ở mức tăng 3,7 - 3,8% so với năm 2021.

Như vậy, có thể tin tưởng, chỉ số giá tiêu dùng cả năm 2022 sẽ nằm trong mức mục tiêu của Chính phủ. Tuy nhiên, các chuyên gia cũng nhấn mạnh, chưa thể chủ quan với lạm phát vào đầu năm 2023. Chi phí vốn tăng cao, giá điện dự kiến tăng và độ trễ tác động từ làn sóng tăng giá nhiên liệu, hàng hóa… là những áp lực rất lớn cho mục tiêu kiểm soát lạm phát trong năm tới. Ngoài ra, các yếu tố ảnh hưởng đến kỳ vọng lạm phát có thể là việc tăng lương, kỳ vọng tăng chi phí thuê nhà. Gói hỗ trợ 487.000 tỷ đồng mới chỉ giải ngân khoảng 16 - 20%, cộng thêm áp lực đẩy mạnh đầu tư công cũng là yếu tố gây áp lực lên lạm phát. Đặc biệt, các chuyên gia nhận định, Chính phủ đã đặt mục tiêu lạm phát năm 2023 ở mức 4,5%, là mức kỳ vọng, song vẫn nên cố gắng phấn đấu để hướng tới mục tiêu chung và lớn hơn là ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo tăng trưởng bền vững.

Tóm lược thị trường trong nước từ 28/11 - 02/12

Thị trường ngoại tệ: Trong tuần từ 28/11 - 02/12, tỷ giá trung tâm vẫn được NHNN điều chỉnh giảm nhẹ qua hầu hết các phiên. Chốt ngày 02/12, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 23.660 VND/USD, giảm 09 đồng so với phiên cuối tuần trước đó. NHNN tiếp tục dừng niêm yết tỷ giá mua giao ngay. Tỷ giá bán giao ngay được giữ nguyên mức 24.840 VND/USD.

Tỷ giá liên ngân hàng biến động giảm mạnh trong tuần qua. Phiên cuối tuần 02/12, tỷ giá liên ngân hàng đóng cửa tại 24.130 VND/USD, giảm tới 636 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.

Tỷ giá trên thị trường tự do chịu áp lực giảm trong tuần qua. Chốt phiên 02/12, tỷ giá tự do giảm 120 đồng ở chiều mua vào và 130 đồng ở chiều bán ra, giao dịch tại 24.800 VND/USD và 24.850 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng: Tuần từ 28/11 - 02/12, lãi suất VND liên ngân hàng giảm khá mạnh trở lại ở các kỳ hạn ngắn trong khi ít biến động ở các kỳ hạn 2W và 1M. Chốt ngày 02/12, lãi suất VND liên ngân hàng giao dịch quanh mức: ON 5,38% (-0,59 đpt so với phiên cuối tuần trước đó); 1W 6,34% (-0,23 đpt); 2W 6,94% (+0,01 đpt); 1M 7,70% (không thay đổi).

Lãi suất USD liên ngân hàng tăng – giảm nhẹ qua các phiên ở tất cả các kỳ hạn trong tuần qua. Chốt tuần 02/12, lãi suất USD liên ngân hàng đóng cửa ở mức: ON 3,92% (+0,02 đpt); 1W 4,12% (+0,05 đpt); 2W 4,26% (+0,05 đpt) và 1M 4,44% (+0,03 đpt).

Thị trường mở: Trên thị trường mở tuần từ 28/11 - 02/12, NHNN chào thầu 55.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố với kỳ hạn 14 ngày, lãi suất ở mức 6,0%. Có 45.660,68 tỷ đồng trúng thầu; có 43.563,11 tỷ đồng đáo hạn. NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN.

Như vậy, NHNN bơm ròng 2.097,57 tỷ VND ra thị trường thông qua nghiệp vụ thị trường mở, khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố ở mức 75.068,68 tỷ VND, khối lượng tín phiếu lưu hành trên thị trường giữ nguyên ở mức 39.999,8 tỷ đồng.

Thị trường trái phiếu: Ngày 30/11, KBNN huy động thành công 6.150/11.000 tỷ đồng gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu 56%). Trong đó, kỳ hạn 10 năm huy động được 6.100/9.000 tỷ đồng, kỳ hạn 15 năm huy động được 50/2.000 tỷ đồng. Lãi suất trúng thầu lần lượt tại 4,8%/năm và 4,9%/năm. Tuần vừa qua từ 28/11 – 02/12 và tuần này từ 05/12 – 09/12 không có TPCP đáo hạn. Về kế hoạch đấu thầu trong tuần này, ngày 07/12, KBNN dự kiến gọi thầu 8.000 tỷ đồng TPCP các kỳ hạn 10 năm và 15 năm.

Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp tuần qua đạt trung bình 5.188 tỷ đồng/phiên, tăng mạnh so với mức 2.910 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Lợi suất TPCP tăng ở hầu hết các kỳ hạn. Chốt phiên 2/12, lợi suất TPCP giao dịch quanh 1 năm 4,73% (không thay đổi); 2 năm 4,76% (+0,01 đpt); 3 năm 4,76% (+0,005 đpt); 5 năm 4,81% (+0,01đpt); 7 năm 4,87% (+0,004 đpt); 10 năm 4,92% (+0,004 đpt); 15 năm 5,06% (+0,02 đpt); 30 năm 5,34% (+0,01 đpt).

Thị trường chứng khoán: Tuần từ 28/11 - 02/12, thị trường chứng kiến một tuần tích cực khi cả 3 chỉ số tăng mạnh, đồng thời khối ngoại gom ròng với khối lượng lớn. Chốt ngày 02/12, VN-Index đứng ở mức 1.080,01 điểm, tăng mạnh tới 108,55 điểm (+11,17%) so với cuối tuần trước đó; HNX-Index bật tăng 19,19 điểm (+9,75%) lên 215,96 điểm; UPCom-Index thêm 3,80 điểm (+5,55%) đạt 72,31 điểm.

Thanh khoản thị trường tăng mạnh so với tuần trước đó với giá trị giao dịch trung bình gần 19.800 tỷ đồng/phiên. Đặc biệt, khối ngoại mua ròng mạnh hơn 4.100 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong tuần qua.

Tin quốc tế

Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Fed Jerome Powell có phát biểu quan trọng về CSTT. Bên cạnh đó, nước Mỹ cũng đón nhiều thông tin kinh tế tích cực. Cụ thể, ngày 01/12 theo giờ Việt Nam, ông Powell nhận định, quá trình tiếp tục tăng LSCS là cần thiết, do lạm phát có dấu hiệu đi xuống nhưng vẫn đang ở mức cao so với lạm phát mục tiêu 2%. Tuy nhiên, CSTT tác động lên nền kinh tế luôn có độ trễ và điều chỉnh tốc độ tăng LS khi đã đến gần mức hiệu quả để giảm lạm phát là hành động hợp lý.

Chủ tịch Fed cho biết thời gian bắt đầu thực hiện điều chỉnh tốc độ có thể đến sớm, ngay trong cuộc họp tháng 12. Hiện tại, theo CME, có 80% khả năng Fed sẽ tăng 50 đcb trong cuộc họp sắp tới, và chỉ 20% khả năng tăng 75 đcb. Liên quan tới thông tin kinh tế Mỹ, GDP của nước này tăng 2,9% q/q trong quý III theo báo cáo sơ bộ lần 2, tích cực hơn mức 2,6% theo kết quả sơ bộ lần 1 và đồng thời tích cực hơn kỳ vọng tăng 2,8%. Tiếp theo, chỉ số giá tiêu dùng cá nhân PCE lõi tại Mỹ tăng 0,2% m/m trong tháng 10 sau khi tăng 0,5% ở tháng 9, gần khớp mức tăng 0,3% theo dự báo. So với cùng kỳ năm 2021, PCE tại quốc gia này tăng 5,0% y/y, thấp hơn một chút so với mức tăng 5,1% của tháng 9.

Tại thị trường lao động, Mỹ tạo ra 10,33 triệu cơ hội việc làm trong tháng 11, thấp hơn một chút so với mức 10,69 triệu của tháng trước đó nhưng vẫn tích cực hơn so với dự báo ở mức 10,24 triệu. Trong tháng 11, quốc gia này tạo ra 263 nghìn việc làm phi nông nghiệp mới, gần bằng mức 284 nghìn của tháng 10 và cao hơn khá nhiều so với mức 200 nghìn theo dự báo. Tỷ thất nghiệp tháng vừa qua đi ngang ở mức 3,7%; không thay đổi so với tháng 10. Cuối cùng, thu nhập bình quân theo giờ của người lao động Mỹ tăng 0,6% m/m trong tháng 11, nối tiếp đà tăng 0,5% của tháng 10 và cao hơn kỳ vọng tăng 0,3%.

Eurozone ghi nhận một số thông tin kinh tế đáng chú ý. Đầu tiên, về lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng CPI toàn phần của khu vực này tăng 10,0% y/y trong tháng 11, giảm xuống từ mức tăng 10,6% của tháng 10 và thấp hơn mức 10,4% theo dự báo. Bên cạnh đó, CPI lõi tăng 5,0% trong tháng vừa qua, không thay đổi so với kết quả của tháng 10 và khớp dự báo. Tiếp theo, chỉ số giá nhập khẩu tại Eurozone giảm 2,9% m/m trong tháng 10 sau khi tăng 1,6% ở tháng 9, sâu hơn mức giảm 2,0% theo kỳ vọng. Nhìn chung, áp lực lạm phát tại Eurozone có dấu hạ nhiệt nhưng chưa rõ ràng. Ở thị trường lao động, tỷ lệ thất nghiệp tại khu vực này được công bố ở mức 6,5% trong tháng 10, trái với dự báo đi ngang ở mức 6,6% ghi nhận ở tháng 9. Cuối cùng, chỉ số PMI lĩnh vực sản xuất tại Eurozone chính thức đạt 47,1 điểm trong tháng 11, thấp hơn so với mức 47,3 điểm theo khảo sát sơ bộ.

Tỷ giá ngày 02/12:

- USD = 0.949 EUR (-0.15% d/d); EUR = 1.054 USD (0.15% d/d)

- USD = 0.814 GBP (-0.28% d/d); GBP = 1.229 USD (0.28% d/d)

- GBP = 1.166 EUR (0.13% d/d); EUR = 0.858 GBP (-0.13% d/d).

P.L

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
9,00
9,00
9,00
9,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700