banner-su-kien
Chỉ số kinh tế:
Ngày 8/10/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.634 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.403/26.865 đồng/USD. Kinh tế tháng 9/2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, với các động lực sản xuất, tiêu dùng, xuất khẩu, đầu tư và việc làm tiếp tục được duy trì. Trong công nghiệp, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,0% so với tháng trước; chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,5%, trong khi chỉ số tồn kho tăng 4,3%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 690,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,77 triệu lượt người, giảm 11,3%. Xuất khẩu là điểm sáng với kim ngạch đạt 59,48 tỷ USD, tăng 8,5% so với tháng trước; cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 1,27 tỷ USD. CPI tăng 0,62% so với tháng trước. Thu ngân sách Nhà nước tháng Chín ước đạt 162,7 nghìn tỷ đồng, chi ngân sách Nhà nước ước đạt 256,8 nghìn tỷ đồng. Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện chín tháng đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước, là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của chín tháng trong 5 năm qua. Thị trường lao động duy trì tích cực khi lao động có việc làm chín tháng đạt 52,7 triệu người, cao hơn 683,8 nghìn người; thu nhập bình quân đạt 9,1 triệu đồng/tháng, cao hơn 752,8 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Ngành xây dựng Việt Nam tăng tốc, tín nhiệm doanh nghiệp phân hóa

Trần Hương
Trần Hương  - 
Ngành xây dựng Việt Nam đang hưởng lợi từ giải ngân đầu tư công tăng tốc, thị trường nhà ở phục hồi và môi trường pháp lý thuận lợi hơn. Tuy nhiên, giá vật liệu, nhân công và chi phí vốn gia tăng khiến biên lợi nhuận chịu sức ép, dòng tiền phân hóa. Trong cuộc đua chuyển backlog (giá trị các hợp đồng hoặc khối lượng công việc doanh nghiệp đã ký kết nhưng chưa hoàn thành, chưa ghi nhận hết vào doanh thu) thành doanh thu, các nhà thầu lớn đang có nhiều lợi thế hơn về triển khai dự án, đàm phán và khả năng trả nợ.
aa
Ngành xây dựng đứng trước nhiều cơ hội phát triển (Ảnh Chinhphu.vn))
Ngành xây dựng đứng trước nhiều cơ hội phát triển (Ảnh: Chinhphu.vn))

Nhu cầu xây dựng phục hồi trên diện rộng

Báo cáo cập nhật sáu tháng đầu năm 2026 của VIS Rating cho thấy hoạt động xây dựng tăng trưởng mạnh hơn, với GDP thực của ngành tăng từ 8,5% trong quý I lên 10,2% trong quý II. Động lực đến từ đầu tư công, hoạt động xây dựng nhà ở phục hồi và những thay đổi pháp lý hỗ trợ tiến độ dự án.

Trong sáu tháng, 357 nghìn tỷ đồng vốn đầu tư công đã được giải ngân, tăng 12% so với cùng kỳ và hoàn thành 35,5% kế hoạch. Chính phủ tiếp tục thúc đẩy các dự án hạ tầng, đặc biệt là công trình giao thông trọng điểm, nhà ở xã hội và nhà cho thuê; đồng thời triển khai biện pháp tháo gỡ vướng mắc giải phóng mặt bằng, ổn định nguồn cung và chi phí vật liệu xây dựng cơ bản.

Nhu cầu từ bất động sản nhà ở cũng cải thiện. Nguồn cung căn hộ tại Hà Nội tăng 55% so với cùng kỳ, trong khi TP. Hồ Chí Minh tăng 78%. Sự phục hồi trên diện rộng tạo thêm khối lượng công việc và hỗ trợ giá trị hợp đồng chưa thực hiện của các doanh nghiệp xây dựng.

Môi trường pháp lý được VIS Rating đánh giá theo hướng thuận lợi hơn. Luật Xây dựng năm 2025, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, tinh gọn quy trình phê duyệt, tăng cường giám sát, miễn giấy phép xây dựng và áp dụng cơ chế đặc thù cho dự án đầu tư công. Những thay đổi này được kỳ vọng giảm chậm trễ về thủ tục hành chính và hỗ trợ tiến độ triển khai dự án.

Tuy nhiên, nhu cầu gia tăng chưa đồng nghĩa lợi nhuận sẽ cải thiện tương ứng. Giá thép xây dựng tăng 8-10% so với cùng kỳ và giá xi măng tăng 3-4%, trong khi chi phí nhân công cũng đi lên. Khi chi phí đầu vào dần được phản ánh vào quá trình thi công, khả năng mở rộng biên lợi nhuận bị hạn chế.

Trong quý II, 16 trong số 30 doanh nghiệp xây dựng niêm yết được phân tích ghi nhận biên lợi nhuận gộp giảm. Áp lực này đặt năng lực lựa chọn dự án, kiểm soát chi phí, mua vật liệu và đàm phán điều khoản hợp đồng vào vị trí quan trọng hơn trong việc quyết định hiệu quả kinh doanh.

Nguồn vốn vẫn có, nhưng ngân hàng lựa chọn kỹ hơn

Tín dụng ngân hàng dành cho ngành xây dựng đến cuối tháng 6 tăng 6,36% so với cuối năm 2025, thấp hơn mức tăng 8,37% của tín dụng toàn hệ thống. Dư nợ xây dựng chiếm 7,4% tổng dư nợ nền kinh tế, gần như không thay đổi so với cuối năm trước.

Theo VIS Rating, các số liệu cho thấy ngân hàng vẫn cung cấp vốn cho nhà thầu nhưng theo hướng chọn lọc. Khả năng tiếp cận vốn vì vậy không đồng đều giữa các doanh nghiệp, nhất là khi nhu cầu vốn lưu động tăng theo quy mô backlog và tiến độ triển khai công trình.

Kênh trái phiếu đóng vai trò tương đối hạn chế trong cơ cấu nguồn vốn. Sáu tháng đầu năm chỉ ghi nhận những tổ chức phát hành cũ như Coteccons và Fecon phát hành tổng cộng 1.525 tỷ đồng. Nguồn tiền huy động chủ yếu được dùng bổ sung vốn lưu động và tái cơ cấu nợ, thay vì mở rộng đầu tư.

Trong khi nhu cầu xây dựng đi lên, doanh thu toàn ngành tăng 12,3% so với cùng kỳ trong sáu tháng đầu năm. Tuy nhiên, động lực chủ yếu đến từ các nhà thầu quy mô lớn và trung bình, còn doanh thu của nhiều nhà thầu nhỏ suy giảm. Điều này phản ánh sự phân hóa không chỉ ở khả năng nhận dự án mà còn trong tốc độ chuyển khối lượng hợp đồng thành doanh thu.

Các nhà thầu lớn có dư địa hấp thụ áp lực đầu vào tốt hơn nhờ năng lực triển khai, khả năng lựa chọn dự án, vị thế đàm phán và lợi thế mua nguyên vật liệu với khối lượng lớn. Ngược lại, doanh nghiệp nhỏ hoặc sử dụng nhiều nợ vay đối mặt đồng thời với biên lợi nhuận thu hẹp, khả năng linh hoạt tài chính hạn chế và áp lực thanh toán nợ gia tăng.

Quy mô doanh nghiệp trong báo cáo được phân loại theo doanh thu bình quân ba năm gần nhất: nhóm lớn đạt trên 5 nghìn tỷ đồng, nhóm trung bình từ 1-5 nghìn tỷ đồng và nhóm nhỏ dưới 1 nghìn tỷ đồng. Mẫu phân tích gồm 30 doanh nghiệp xây dựng niêm yết có doanh thu lớn nhất.

Dòng tiền quyết định sức bền của nhà thầu

Giá trị backlog cao mở ra triển vọng doanh thu nhưng cũng kéo theo nhu cầu vốn và đòn bẩy tài chính lớn hơn. Khi tiến độ thi công tăng, doanh nghiệp phải ứng vốn cho vật liệu, nhân công và các chi phí triển khai trước khi thu được tiền từ chủ đầu tư. Khả năng chuyển backlog thành doanh thu và dòng tiền vì vậy trở thành yếu tố phân định sức khỏe tín nhiệm.

Dư nợ vay toàn ngành chỉ tăng 5% so với cùng kỳ, nhưng chi phí lãi vay tăng tới 25%. Hệ số bao phủ lãi vay, tính bằng EBIT trên chi phí lãi vay, giảm từ 2,7 lần cuối năm 2025 xuống gần 1,9 lần vào cuối quý II/2026. Khoảng cách giữa tốc độ tăng dư nợ và chi phí lãi vay cho thấy sức ép từ giá vốn đang gia tăng.

Áp lực nợ vay đặc biệt đáng chú ý tại các nhà thầu quy mô vừa và lớn có backlog cao. Dù nhóm doanh nghiệp lớn thường có vị thế tốt hơn, khối lượng dự án lớn vẫn đòi hỏi nguồn vốn đáng kể, khiến việc kiểm soát tiến độ thu tiền và chi phí tài chính trở thành yêu cầu then chốt.

Khả năng trả nợ ngày càng phân hóa. Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong 12 tháng gần nhất của các nhà thầu lớn tại cuối quý II tăng khoảng 50% so với quý trước, hỗ trợ thanh khoản và nghĩa vụ nợ. Trong khi đó, dòng tiền hoạt động tiếp tục âm tại nhiều nhà thầu vừa và nhỏ, làm gia tăng áp lực thanh khoản.

VIS Rating nhận định các nhà thầu lớn có khả năng duy trì hồ sơ tín nhiệm tốt hơn nhờ chuyển hóa backlog thành doanh thu và dòng tiền hiệu quả hơn. Năng lực triển khai, lựa chọn dự án và đàm phán giúp nhóm này chống chịu tốt hơn trước biến động giá vật liệu, nhân công và vốn vay.

Ngược lại, với những nhà thầu nhỏ, doanh thu suy giảm, biên lợi nhuận thu hẹp và dòng tiền âm có thể cùng lúc làm giảm mức độ linh hoạt tài chính. Khi khả năng tiếp cận tín dụng mang tính chọn lọc và kênh trái phiếu còn hạn chế, áp lực thanh toán nợ trở nên rõ rệt hơn.

Bức tranh sáu tháng đầu năm cho thấy ngành xây dựng đang có nền cầu thuận lợi, nhưng cơ hội không phân bổ đồng đều. Tăng trưởng doanh thu mới là một vế; khả năng giữ biên lợi nhuận, tạo dòng tiền và bảo đảm hệ số trả nợ mới là yếu tố quyết định doanh nghiệp có chuyển được chu kỳ tăng trưởng của thị trường thành sức khỏe tài chính bền vững hay không.

Trần Hương

Tin liên quan

Tin khác

Chuyển hóa nguồn lực nhập khẩu, nâng chất tăng trưởng xuất khẩu

Chuyển hóa nguồn lực nhập khẩu, nâng chất tăng trưởng xuất khẩu

9 tháng năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tăng tới 36,7%, cao hơn đáng kể tốc độ tăng xuất khẩu. Tuy nhiên, phía sau con số nhập khẩu tăng mạnh là nhu cầu nguyên liệu, máy móc, thiết bị phục vụ mở rộng sản xuất, tích lũy đầu vào và hình thành năng lực sản xuất mới. Vấn đề đặt ra lúc này không phải nhập khẩu tăng bao nhiêu mà là nền kinh tế có thể chuyển hóa những nguồn lực đó thành bao nhiêu năng suất, công nghệ và giá trị gia tăng trong nước?
Kết nối doanh nghiệp Việt, nâng chất lượng dòng vốn FDI

Kết nối doanh nghiệp Việt, nâng chất lượng dòng vốn FDI

Dòng vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh đang mở ra cơ hội để doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, để chuyển nguồn lực quốc tế thành năng lực nội sinh, cần thúc đẩy liên kết thực chất giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước, đồng thời nâng cao năng lực công nghệ, quản trị, nhân lực và đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững.
Xuất khẩu qua thương mại điện tử: Dư địa tỷ USD, năng lực vẫn

Xuất khẩu qua thương mại điện tử: Dư địa tỷ USD, năng lực vẫn 'đuối sức'

Thương mại điện tử xuyên biên giới đang mở thêm kênh xuất khẩu với dư địa lớn, nhưng để biến cơ hội thành kim ngạch thực tế, doanh nghiệp phải nâng năng lực số, logistics và khả năng tuân thủ.
TP. Hồ Chí Minh mở rộng đầu ra cho hàng Việt, thúc đẩy chuỗi cung ứng xanh

TP. Hồ Chí Minh mở rộng đầu ra cho hàng Việt, thúc đẩy chuỗi cung ứng xanh

TP. Hồ Chí Minh đang chuyển hoạt động kết nối cung - cầu từ hỗ trợ tiêu thụ hàng hóa sang xây dựng chuỗi cung ứng có trách nhiệm, minh bạch về chất lượng, ứng dụng công nghệ số và phát triển bền vững.
Công cuộc tái định hình chuỗi cung ứng nông sản

Công cuộc tái định hình chuỗi cung ứng nông sản

Khi các tiêu chuẩn xanh và truy xuất nguồn gốc ngày càng định hình thương mại toàn cầu, năng lực cạnh tranh của nông, lâm sản không còn chỉ nằm ở giá cả hay năng lực cung ứng. Từ quy định của Liên minh châu Âu (EU) về các sản phẩm không gây phá rừng (EUDR) đến những yêu cầu mới tại Vương quốc Anh, sức ép minh bạch cũng mở ra cơ hội để Việt Nam chuẩn hóa chuỗi giá trị và nâng vị thế nông sản trên thị trường quốc tế.
Kịch bản nào để doanh nghiệp Việt định vị trong chuỗi cung ứng toàn cầu?

Kịch bản nào để doanh nghiệp Việt định vị trong chuỗi cung ứng toàn cầu?

Biến động đang dần trở thành trạng thái thường trực của chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong bối cảnh đó, lợi thế của doanh nghiệp Việt Nam có thể không còn chủ yếu nằm ở quy mô nhà xưởng hay chi phí nhân công, mà được quyết định bởi tốc độ ra quyết định, năng lực kỹ thuật và khả năng kết nối với chuỗi cung ứng của khách hàng. Xung quanh vấn đề này, phóng viên Thời báo Ngân hàng có cuộc trao đổi với bà Nguyễn Quyên (ảnh dưới), Giám đốc CEL, về những thay đổi của chuỗi giá trị và hành trang doanh nghiệp Việt cần chuẩn bị để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Mở rộng kết nối ngành dệt may

Mở rộng kết nối ngành dệt may

Triển lãm Dệt May Quốc tế HanoiTex - HanoiFabric 2026 sẽ trở lại trong tháng 10, quy tụ doanh nghiệp trong nước và quốc tế tới giới thiệu công nghệ, thiết bị, nguyên phụ liệu và các giải pháp mới cho ngành dệt may.
Phải đi từ kết nối đến đồng phát triển

Phải đi từ kết nối đến đồng phát triển

Từ kết nối đơn hàng đến đồng phát triển công nghệ, doanh nghiệp Việt cần thay đổi cách tiếp cận, còn chính sách FDI phải tạo sức lan tỏa hơn.
Vingroup và Alstom hợp tác công nghệ để phát triển tuyến đường sắt đô thị Hà Nội thế hệ mới

Vingroup và Alstom hợp tác công nghệ để phát triển tuyến đường sắt đô thị Hà Nội thế hệ mới

Ngày 06/10/2026, Vingroup và Alstom - tập đoàn công nghệ đường sắt hàng đầu thế giới đã ký hợp đồng cung cấp tàu và chuyển giao quyền sử dụng công nghệ. Theo hợp đồng, Alstom chuyển giao công nghệ để sản xuất, lắp ráp tại Việt Nam và cung cấp tổng 200 đoàn tàu Metropolis nhằm sớm đưa các dự án đường sắt đô thị Hà Nội vào hoạt động.
Từ 15/11, áp dụng quy định mới về truy xuất nguồn gốc thực phẩm

Từ 15/11, áp dụng quy định mới về truy xuất nguồn gốc thực phẩm

Bộ Công Thương vừa ban hành Thông tư số 63 ngày 30/9/2026 quy định về Cơ sở dữ liệu thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương.