Ngành xây dựng Việt Nam tăng tốc, tín nhiệm doanh nghiệp phân hóa
![]() |
| Ngành xây dựng đứng trước nhiều cơ hội phát triển (Ảnh: Chinhphu.vn)) |
Nhu cầu xây dựng phục hồi trên diện rộng
Báo cáo cập nhật sáu tháng đầu năm 2026 của VIS Rating cho thấy hoạt động xây dựng tăng trưởng mạnh hơn, với GDP thực của ngành tăng từ 8,5% trong quý I lên 10,2% trong quý II. Động lực đến từ đầu tư công, hoạt động xây dựng nhà ở phục hồi và những thay đổi pháp lý hỗ trợ tiến độ dự án.
Trong sáu tháng, 357 nghìn tỷ đồng vốn đầu tư công đã được giải ngân, tăng 12% so với cùng kỳ và hoàn thành 35,5% kế hoạch. Chính phủ tiếp tục thúc đẩy các dự án hạ tầng, đặc biệt là công trình giao thông trọng điểm, nhà ở xã hội và nhà cho thuê; đồng thời triển khai biện pháp tháo gỡ vướng mắc giải phóng mặt bằng, ổn định nguồn cung và chi phí vật liệu xây dựng cơ bản.
Nhu cầu từ bất động sản nhà ở cũng cải thiện. Nguồn cung căn hộ tại Hà Nội tăng 55% so với cùng kỳ, trong khi TP. Hồ Chí Minh tăng 78%. Sự phục hồi trên diện rộng tạo thêm khối lượng công việc và hỗ trợ giá trị hợp đồng chưa thực hiện của các doanh nghiệp xây dựng.
Môi trường pháp lý được VIS Rating đánh giá theo hướng thuận lợi hơn. Luật Xây dựng năm 2025, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, tinh gọn quy trình phê duyệt, tăng cường giám sát, miễn giấy phép xây dựng và áp dụng cơ chế đặc thù cho dự án đầu tư công. Những thay đổi này được kỳ vọng giảm chậm trễ về thủ tục hành chính và hỗ trợ tiến độ triển khai dự án.
Tuy nhiên, nhu cầu gia tăng chưa đồng nghĩa lợi nhuận sẽ cải thiện tương ứng. Giá thép xây dựng tăng 8-10% so với cùng kỳ và giá xi măng tăng 3-4%, trong khi chi phí nhân công cũng đi lên. Khi chi phí đầu vào dần được phản ánh vào quá trình thi công, khả năng mở rộng biên lợi nhuận bị hạn chế.
Trong quý II, 16 trong số 30 doanh nghiệp xây dựng niêm yết được phân tích ghi nhận biên lợi nhuận gộp giảm. Áp lực này đặt năng lực lựa chọn dự án, kiểm soát chi phí, mua vật liệu và đàm phán điều khoản hợp đồng vào vị trí quan trọng hơn trong việc quyết định hiệu quả kinh doanh.
Nguồn vốn vẫn có, nhưng ngân hàng lựa chọn kỹ hơn
Tín dụng ngân hàng dành cho ngành xây dựng đến cuối tháng 6 tăng 6,36% so với cuối năm 2025, thấp hơn mức tăng 8,37% của tín dụng toàn hệ thống. Dư nợ xây dựng chiếm 7,4% tổng dư nợ nền kinh tế, gần như không thay đổi so với cuối năm trước.
Theo VIS Rating, các số liệu cho thấy ngân hàng vẫn cung cấp vốn cho nhà thầu nhưng theo hướng chọn lọc. Khả năng tiếp cận vốn vì vậy không đồng đều giữa các doanh nghiệp, nhất là khi nhu cầu vốn lưu động tăng theo quy mô backlog và tiến độ triển khai công trình.
Kênh trái phiếu đóng vai trò tương đối hạn chế trong cơ cấu nguồn vốn. Sáu tháng đầu năm chỉ ghi nhận những tổ chức phát hành cũ như Coteccons và Fecon phát hành tổng cộng 1.525 tỷ đồng. Nguồn tiền huy động chủ yếu được dùng bổ sung vốn lưu động và tái cơ cấu nợ, thay vì mở rộng đầu tư.
Trong khi nhu cầu xây dựng đi lên, doanh thu toàn ngành tăng 12,3% so với cùng kỳ trong sáu tháng đầu năm. Tuy nhiên, động lực chủ yếu đến từ các nhà thầu quy mô lớn và trung bình, còn doanh thu của nhiều nhà thầu nhỏ suy giảm. Điều này phản ánh sự phân hóa không chỉ ở khả năng nhận dự án mà còn trong tốc độ chuyển khối lượng hợp đồng thành doanh thu.
Các nhà thầu lớn có dư địa hấp thụ áp lực đầu vào tốt hơn nhờ năng lực triển khai, khả năng lựa chọn dự án, vị thế đàm phán và lợi thế mua nguyên vật liệu với khối lượng lớn. Ngược lại, doanh nghiệp nhỏ hoặc sử dụng nhiều nợ vay đối mặt đồng thời với biên lợi nhuận thu hẹp, khả năng linh hoạt tài chính hạn chế và áp lực thanh toán nợ gia tăng.
Quy mô doanh nghiệp trong báo cáo được phân loại theo doanh thu bình quân ba năm gần nhất: nhóm lớn đạt trên 5 nghìn tỷ đồng, nhóm trung bình từ 1-5 nghìn tỷ đồng và nhóm nhỏ dưới 1 nghìn tỷ đồng. Mẫu phân tích gồm 30 doanh nghiệp xây dựng niêm yết có doanh thu lớn nhất.
Dòng tiền quyết định sức bền của nhà thầu
Giá trị backlog cao mở ra triển vọng doanh thu nhưng cũng kéo theo nhu cầu vốn và đòn bẩy tài chính lớn hơn. Khi tiến độ thi công tăng, doanh nghiệp phải ứng vốn cho vật liệu, nhân công và các chi phí triển khai trước khi thu được tiền từ chủ đầu tư. Khả năng chuyển backlog thành doanh thu và dòng tiền vì vậy trở thành yếu tố phân định sức khỏe tín nhiệm.
Dư nợ vay toàn ngành chỉ tăng 5% so với cùng kỳ, nhưng chi phí lãi vay tăng tới 25%. Hệ số bao phủ lãi vay, tính bằng EBIT trên chi phí lãi vay, giảm từ 2,7 lần cuối năm 2025 xuống gần 1,9 lần vào cuối quý II/2026. Khoảng cách giữa tốc độ tăng dư nợ và chi phí lãi vay cho thấy sức ép từ giá vốn đang gia tăng.
Áp lực nợ vay đặc biệt đáng chú ý tại các nhà thầu quy mô vừa và lớn có backlog cao. Dù nhóm doanh nghiệp lớn thường có vị thế tốt hơn, khối lượng dự án lớn vẫn đòi hỏi nguồn vốn đáng kể, khiến việc kiểm soát tiến độ thu tiền và chi phí tài chính trở thành yêu cầu then chốt.
Khả năng trả nợ ngày càng phân hóa. Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong 12 tháng gần nhất của các nhà thầu lớn tại cuối quý II tăng khoảng 50% so với quý trước, hỗ trợ thanh khoản và nghĩa vụ nợ. Trong khi đó, dòng tiền hoạt động tiếp tục âm tại nhiều nhà thầu vừa và nhỏ, làm gia tăng áp lực thanh khoản.
VIS Rating nhận định các nhà thầu lớn có khả năng duy trì hồ sơ tín nhiệm tốt hơn nhờ chuyển hóa backlog thành doanh thu và dòng tiền hiệu quả hơn. Năng lực triển khai, lựa chọn dự án và đàm phán giúp nhóm này chống chịu tốt hơn trước biến động giá vật liệu, nhân công và vốn vay.
Ngược lại, với những nhà thầu nhỏ, doanh thu suy giảm, biên lợi nhuận thu hẹp và dòng tiền âm có thể cùng lúc làm giảm mức độ linh hoạt tài chính. Khi khả năng tiếp cận tín dụng mang tính chọn lọc và kênh trái phiếu còn hạn chế, áp lực thanh toán nợ trở nên rõ rệt hơn.
Bức tranh sáu tháng đầu năm cho thấy ngành xây dựng đang có nền cầu thuận lợi, nhưng cơ hội không phân bổ đồng đều. Tăng trưởng doanh thu mới là một vế; khả năng giữ biên lợi nhuận, tạo dòng tiền và bảo đảm hệ số trả nợ mới là yếu tố quyết định doanh nghiệp có chuyển được chu kỳ tăng trưởng của thị trường thành sức khỏe tài chính bền vững hay không.
Tin liên quan
Tin khác
Chăn nuôi Việt Nam đối mặt thách thức phát triển hiệu quả, hiện đại và bền vững
Từ rơm rạ bỏ đi đến sản phẩm triệu đô trên Amazon
Logistics Việt Nam trước bài toán tái cấu trúc thể chế
PCI 2.0: Từ chất lượng điều hành đến hiệu quả kinh tế tư nhân
Xuất khẩu tăng tốc, lốp xe Việt Nam đứng trước rủi ro 'hứng đòn' phòng vệ thương mại
Xuất khẩu phân bón vượt 1 tỷ USD, doanh nghiệp giảm dần phụ thuộc
Biến lợi thế bản địa thành thương hiệu Việt trên thị trường quốc tế
Chuyển đổi số phải tạo ra giá trị thực
Vietjet và Thales mở rộng hợp tác hàng không công nghệ cao Việt Nam – Pháp



