Fed giảm lãi suất và tác động trong dài hạn

08:49 | 30/09/2019

Ngày 18/9/2019 (giờ Mỹ), Fed quyết định giảm 0,25 điểm % lãi suất cơ bản, từ mức 2%-2,25% xuống mức 1,75%-2%. Như vậy, trong gần 2 tháng qua, Fed đã hai lần cắt giảm lãi suất và cũng là lần thứ 2 Fed hạ lãi suất kể từ năm 2015 đến nay. Fed cũng để ngỏ khả năng hạ lãi suất thêm một lần nữa từ nay đến cuối năm 2019.

Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 23-27/9
Giảm lãi suất huy động thì lãi suất cho vay mới giảm
Thị trường tài chính quốc tế sẽ còn biến động

Fed có khả năng giảm tiếp lãi suất

Theo báo cáo của TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV, thị trường chứng khoán thế giới hầu hết không có biến động mạnh, do việc hạ lãi suất lần này đã nằm trong dự báo trước đó, không có nhiều tác động tới tâm lý các nhà đầu tư.

Thị trường chứng khoán châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng được đánh giá là cũng không chịu nhiều tác động, mà chủ yếu phụ thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi thị trường. Thị trường ngoại hối quốc tế cũng không có biến động mạnh, tương tự như diễn biến của thị trường chứng khoán. Chỉ số đồng USD (DXY) tăng 0,31%, CNY tăng 0,09%, đồng EUR giảm 0,4%, JPY giảm 0,3%, THB và VND không có biến động...

Có thể thấy, tác động của việc Fed hạ lãi suất lần này đối với thị trường tài chính quốc tế và Việt Nam trong ngắn hạn, là không lớn. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu cho rằng cần lưu ý việc các thành viên của Fed không đạt được sự thống nhất cao trong quyết định hạ lãi suất lần này cho thấy sẽ rất khó dự báo các quyết định của Fed trong thời gian tới.

Trao đổi với phóng viên, TS - LS Bùi Quang Tín cũng chia sẻ thêm, các NHTW trên thế giới có xu hướng chuyển sang nới lỏng chính sách tiền tệ. Tại Châu Á, Nhật Bản và Đài Loan quyết định duy trì lãi suất âm -0,1%/năm, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cũng hạ lãi suất 0,1% xuống -0,5%/năm. Làn sóng nới lỏng tiền tệ đang tiếp tục lan rộng để ngăn chặn rủi ro lạm phát, suy thoái kinh tế.

Theo TS. Tín, trong mặt bằng chung như vậy, Fed nếu không giảm lãi suất sẽ khó thể nào tham gia được cuộc chơi toàn cầu. Cộng thêm việc thương chiến Mỹ - Trung chưa thể chấm dứt sớm, tình hình kinh tế Mỹ vừa qua cũng không thật sự khả quan. Báo cáo của OECD dự báo triển vọng tăng trưởng kinh tế Mỹ bị hạ về 2,4% trong 2019 và 2% trong 2020... “Đứng trên bình diện thế giới, nền kinh tế Mỹ khó có tính ngoại lệ, nên Fed khó có thể không giảm lãi suất”, chuyên gia này nhấn mạnh.

Cùng chung quan điểm, TS. Nguyễn Trí Hiếu nhận thấy dưới áp lực của Tổng thống Mỹ Donald Trump, từ giờ tới cuối năm 2019, Fed nhiều khả năng sẽ có thể giảm lãi suất thêm một lần nữa. Tuy vậy, bên cạnh chiến tranh thương mại Trung - Mỹ, ông Hiếu cho rằng một trong những nguyên do chính dẫn tới khả năng cao Fed sẽ tiếp tục giảm lãi suất nằm ở vấn đề tranh cử của Tổng thống Donald Trump vào năm 2020 tới, khi ông Trump kỳ vọng nền kinh tế của Mỹ sẽ tăng trưởng mạnh nên đã có yêu cầu Fed đưa lãi suất về 0 hoặc âm, dù điều này được giới chuyên gia nhận định là “bất khả thi”.

Tăng cường chủ động, linh hoạt

Từ ngày 16/9, lãi suất tái cấp vốn giảm từ 6,25% xuống 6%/năm, lãi suất tái chiết khấu giảm từ 4,25% xuống 4%/năm. Đây là lần giảm lãi suất điều hành đầu tiên của NHNN kể từ tháng 10/2017. Tâm lý thị trường rất tích cực, mặc dù NHNN liên tục hút tiền thông qua kênh tín phiếu nhưng nguồn cung VND dồi dào đã khiến lãi suất qua đêm trên liên ngân hàng giảm xuống mức 2,37%/năm. Động thái giảm lãi suất cho thấy nhà nước sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản với một mức lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường, thể hiện định hướng trong điều hành ổn định kinh tế vĩ mô.

Câu hỏi đặt ra là với xu hướng Fed nhiều khả năng sẽ giảm tiếp lãi suất, tác động tới thị trường tài chính, tiền tệ Việt Nam trong dài hạn sẽ ra sao? Một chuyên gia chia sẻ, USD giảm giá sẽ phần nào làm giảm áp lực Việt Nam phải giảm giá tiền đồng, nhưng cần lưu ý VND liên quan khá nhiều tới đồng nhân dân tệ (CNY). Tỷ giá nhân dân tệ ngày 26/9 giảm mạnh xuống thấp nhất trong 3 tuần gần đây so với đồng USD. Nếu CNY tiếp tục phá giá, chiến tranh Trung - Mỹ leo thang thì Việt Nam cũng sẽ chịu nhiều áp lực, ảnh hưởng tới xuất khẩu của Việt Nam, nhất là nông sản.

Chính phủ giao NHNN phải theo dõi sát sao động thái của Fed và NHTW các nước, những biến động trên thị trường tài chính quốc tế... Trong trường hợp nếu CNY mất giá sâu, Việt Nam phải chuẩn bị kịch bản để đối phó kịp thời, cũng như có CSTT và thương mại phù hợp giúp nền kinh tế và thị trường tài chính - tiền tệ Việt Nam ổn định.

TS - LS Bùi Quang Tín  cũng nhận định trong bối cảnh chung còn rất nhiều biến động khó lường của kinh tế thế giới, chắc chắn NHNN sẽ đi theo hướng tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, hỗ trợ doanh nghiệp, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Tuy nhiên, vẫn cần theo dõi sát bởi những biến động trên thị trường ngoại hối quốc tế sẽ có tác động nhất định tới tỷ giá USD/VND. “Về trung và dài hạn, tỷ giá USD/VND sẽ tùy thuộc chủ yếu vào các yếu tố vĩ mô như tăng trưởng GDP, trạng thái cán cân thanh toán tổng thể, cán cân thương mại, thu hút FDI, giá vàng... và sự quản lý sát sao, cũng như động thái phù hợp của NHNN”, TS. Cấn Văn Lực nhấn mạnh.

Báo cáo cập nhật tình hình kinh tế khu vực Đông Nam Á của Viện Kế toán Công chứng Vương quốc Anh và xứ Wales(ICAEW) vừa được công bố ngày 26/9 đưa ra dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Namnăm 2019 dự kiến đạt 6,7% - ở mức vượt trội so với các nền kinh tế còn lại trong khu vực. Cũng theo ICAEW, Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ hiệu ứng chuyển hướng thương mại tích cực, mặc dù ở đà thấp hơn, cũng như sức cầu mạnh trong nước và dòng vốnđầu tưtrực tiếp nước ngoài (FDI) vững chắc.

Minh Khuê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950