Gia tăng thị phần tại châu Mỹ thông qua FTA

09:27 | 30/09/2020

Theo ông Ngô Trung Khanh - Phó vụ trưởng Vụ chính sách thương mại đa biên (Bộ Công thương), thị trường châu Mỹ đang là mảnh đất hứa hẹn, đầy tiềm năng để DN Việt Nam khai thác. Dư địa xuất khẩu hàng hóa sang thị trường châu Mỹ rất rộng mở nếu DN Việt Nam tận dụng tốt các Hiệp định thương mại (FTA) mà Việt Nam đã và sẽ ký kết với các quốc gia khu vực này.

Cơ hội tiếp cận thị trường châu Mỹ thông qua FTA
Ngành tôm kỳ vọng sức bật từ EVFTA
Ảnh minh họa

Đặc biệt các nhóm hàng của Việt Nam có thế mạnh và xuất khẩu nhiều nhất sang nước Hoa Kỳ. Cụ thể với hàng dệt may, nhập khẩu của Hoa Kỳ từ thế giới trung bình hàng năm, (năm 2019) khoảng 105 tỷ USD, trong đó nhập từ Việt Nam khoảng 14,8 tỷ USD (khoảng 14%). Mặt hàng điện thoại và linh kiện, Hoa Kỳ nhập khoảng 101,9 tỷ USD, trong khi chúng ta xuất sang Hoa Kỳ khoảng 8,9 tỷ USD, nghĩa là thị phần của chúng ta chỉ khoảng 8,9%.

Với giày, dép các loại, Hoa Kỳ nhập 28,1 tỷ USD, chúng ta xuất sang Hoa Kỳ 6,6 tỷ USD, thị phần khoảng 23,5%. Với thủy sản, Hoa Kỳ nhập 23 tỷ USD, trong khi chúng ta chỉ xuất khẩu được 1,5 tỷ USD, thị phần khoảng 6,5%. Tiếp theo là đồ gỗ, Hoa Kỳ nhập 86,4 tỷ USD, trong khi chỉ nhập từ chúng ta 5,4 tỷ USD, thị phần 6,3%. Máy tính Hoa Kỳ nhập 91 tỷ USD, nhưng nhập khẩu từ Việt Nam chỉ 6,1 tỷ USD, thị phần chỉ là 6,6%.

Dư địa xuất khẩu càng rộng khi nhìn sang thị trường Canada, Mexico, Brazin, thị phần của hàng hóa Việt Nam cũng không cải thiện được bao nhiêu. Cụ thể như ở thị trường Canada, thị phần hàng dệt may của nước ta chỉ khoảng 6,9%, tại Mexico chỉ chiếm khoảng 2,2%, tại Brazin là 2,7%. Còn thị phần điện thoại và linh kiện của nước ta tại Canada cũng chỉ khoảng 5,7%, tại Mexico là 3,8%, tại Brazin là 18,8%. Với giày, dép, thị phần hàng hóa Việt Nam tại Canada khoảng 15,6%; đối với thủy sản là 6,9%; đối với đồ gỗ là 1,6% và đối với máy tính và linh kiện là 2,8%... tại các nước khác thị phần cũng rất hạn chế… 

Vấn đề quan trọng hiện nay là chúng ta sẽ tận dụng như thế nào đặc biệt với thị trường Chi Lê, Canada và Mexico thông qua Hiệp định CPTPP. Bên cạnh đó là một hiệp định trong tương lai với Hoa Kỳ mà chúng ta đang khởi động chuẩn bị đàm phán... với những mức thuế rất tốt để hàng hóa Việt Nam có thể xâm nhập nhanh vào các thị trường này.

Ông Khanh cho biết với thị trường Hoa Kỳ, hàng dệt may Việt Nam đang chịu thuế MFN (vì chưa có FTA với Hoa Kỳ) khoảng từ 0% đến 23,5%. Nếu chúng ta đàm phán được theo mức thuế trước đây mà Hoa Kỳ đã cam kết theo TPP là 73,1% dòng thuế về 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực thì khả năng tăng gấp đôi kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ là hoàn toàn có thể. 

Đối với sản phẩm giày dép, hiện nay thuế MFN của Hoa Kỳ khá cao, trung bình là khoảng 48%. Theo cam kết TPP trước đây, Hoa Kỳ đồng ý cắt giảm 85% dòng thuế về 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực vì vậy nếu có riêng một FTA với Hoa Kỳ sẽ là điều kiện rất tốt để gia tăng thị phần cho hàng hóa Việt Nam. 

Đánh giá về tiềm năng và cơ hội xuất khẩu sang thị trường châu Mỹ, Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải cũng cho biết, không chỉ giá trị thương mại hai chiều trong vòng 10 năm qua đã tăng 3,5 lần, từ 28 tỷ USD vào năm 2011 lên 96,8 tỷ USD vào năm 2019, trong đó, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang châu Mỹ đạt 73,6 tỷ USD và nhập khẩu từ châu Mỹ đạt hơn 23,2 tỷ USD. Ngay cả trong bối cảnh bị ảnh hưởng do tác động của Covid-19, 8 tháng năm 2020 kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam với các nước châu Mỹ vẫn đạt 69,3 tỷ USD, tăng 11,8% trong đó xuất khẩu của Việt Nam tăng 15,9% so với cùng kỳ năm 2019. Về đầu tư trực tiếp, tính đến hết tháng 8/2020, có 28 quốc gia châu Mỹ đầu tư tại Việt Nam với 1.530 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 22,85 tỷ USD. 

Thời gian qua, một số Hiệp định thương mại quan trọng đã và đang được thiết lập để tạo nên nền tảng tích cực cho phát triển hợp tác kinh tế - thương mại mới như: Hiệp định thương mại với Cuba ký năm 2018; Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) ký năm 2018 và đi vào hiệu lực năm 2019, trong đó có Canada, Peru, Mexico của khu vực châu Mỹ là những quốc gia lần đầu tiên có quan hệ tự do thương mại (FTA) với Việt Nam. Hiện nay, Hiệp định thương mại tự do với Khối Thị trường chung Nam Mỹ (Mercosur) cũng đang được trao đổi về khả năng đàm phán. 

Tuy nhiên, ông Hải cũng cho biết, đại dịch Covid-19 từ đầu năm 2020 đã có những tác động xấu tới nền kinh tế thế giới cũng như Việt Nam và các nước châu Mỹ. Đơn hàng giảm, chuỗi cung ứng đứt gãy, thất nghiệp gia tăng là những khó khăn lớn mà cộng đồng doanh nghiệp đang gặp phải. Song, khó khăn tới cũng là lúc cơ hội phát triển mới cho những doanh nghiệp biết thích ứng, nắm thông tin và có chiến lược phát triển phù hợp, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam được đánh giá đang và sẽ là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư châu Mỹ trong xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu.

Dương Công Chiến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.043 23.273 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.260 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.076 23..288 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.070 23.270 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.090 23.270 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.120 23.250 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.900
56.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.900
56.400
Vàng SJC 5c
55.900
56.420
Vàng nhẫn 9999
53.600
54.100
Vàng nữ trang 9999
53.100
53.800