Giai đoạn 2021-2025, GDP của Việt Nam có thể tăng trung bình 7%

12:39 | 21/11/2019

Đây là dự báo của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế xã hội quốc gia (NCIF) tại cuộc hội thảo “Triển vọng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021-2025: Cơ hội và thách thức từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới” được tổ chức sáng nay tại Hà Nội.

Ảnh minh họa

Chia sẻ tại hội thảo, TS Đặng Đức Anh, Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế xã hội quốc gia (NCIF) cho biết, NCIF xây dựng hai dự báo tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 2021-2025. Theo đó, với nhiều khả năng xảy ra hơn, tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam sẽ đạt khoảng 7%/năm trong giai đoạn 2021-2025. Kinh tế vĩ mô theo kịch bản trên về cơ bản ổn định, lạm phát ở mức 3,5-4,5%/năm.

Như vậy, “Với dự báo tăng trưởng như trên, đến cuối năm 2025, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt khoảng 4.688 USD, đưa Viêt Nam gia nhập nhóm các nước có thu nhập trung bình cao”, ông Đức Anh phân tích.

Theo ông Đức Anh, để xây dựng được dự báo tăng trưởng trên, NCIF đã thực hiện các đánh giá nền tảng kinh tế Việt Nam sau giai đoạn 2016-2020, xem xét các yếu tố trong và ngoài nước có nhiều khả năng tác động đến nền kinh tế Việt Nam giai đoạn tới, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng với những cơ hội và thách thức từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Đánh giá về kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn 2016-2020, báo cáo của NCIF cho biết, mặc dù còn khó khăn nhưng kinh tế Việt Nam vẫn đạt được nhiều kết quả ấn tượng. Cụ thể, tăng trưởng GDP phục hồi rõ nét sau giai đoạn 2011-2025, duy trì được tốc độ cao đặc biệt trong các năm 2017-2019. Đây là kết quả đáng khích lệ trong bối cảnh kinh tế thế giới, thương mại toàn cầu ở hầu hết các khu vực tăng trưởng chậm lại.

Như vậy, “tính chung trong giai đoạn 2016-2020, tăng trưởng GDP của nền kinh tế khoảng 6,84%/năm, đạt mục tiêu 6,5-7% kế hoạch 2016-2020 đã đề ra” ông Đức Anh cho biết.

Đối với triển vọng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021-2025, đại diện NICF cũng cho rằng kinh tế Việt Nam sẽ có nhiều thuận lợi và khó khăn đan xen. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 lan rộng và việc tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP  và EVFTA được kỳ vọng sẽ mang lại nhiều cơ hội phát triển kinh tế cho Việt Nam thông qua việc mở rộng xuất khẩu, đầu tư và ứng dụng khoa học công nghệ.

Đặc biệt, theo dự báo tăng trưởng giai đoạn 2021-2025 vẫn sẽ phụ thuộc vào khu vực công nghiệp xây dựng và dịch vụ, trong đó quan trọng là hai nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo và ngành bán buôn, bán lẻ. Sự chuyển đổi nhanh hơn của mô hình tăng trưởng theo hướng năng suất, chất lượng và hiệu quả, với động lực chính là khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ giúp duy trì tăng trưởng cao và ổn định cho nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới.

Tuy nhiên, theo NICF trong trung hạn, kinh tế Việt Nam cũng sẽ đối mặt với nhiều khó thách thức và khó khăn. Việt Nam tiếp tục chịu tác động tiêu cực do kinh tế toàn cầu giảm tốc khi bảo hộ thương mại và xung đột thương mại gia tăng. Hoạt động xuất khẩu và đầu tư đứng trước nhiều rủi ro.

Trong nội tại nền kinh tế, đáng chú ý là các vấn đề mang tính cơ cấu như mô hình tăng trưởng chưa thoát khỏi quán tính tăng trưởng theo chiều rộng, hiệu quả sử dụng vốn, đặc biệt là hiệu quả đầu tư công chưa cao; khả năng cạnh tranh yếu; năng lực đổi mới sáng tạo thấp; tiếp tục là những cản trở cho việc duy trì tốc độ tăng trưởng bền vững trong thời gian tới.

Thúy Nga

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950