Chỉ số kinh tế:
Ngày 28/10/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.631 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.400/26.862 đồng/USD. Kinh tế tháng 9/2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, với các động lực sản xuất, tiêu dùng, xuất khẩu, đầu tư và việc làm tiếp tục được duy trì. Trong công nghiệp, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,0% so với tháng trước; chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,5%, trong khi chỉ số tồn kho tăng 4,3%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 690,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,77 triệu lượt người, giảm 11,3%. Xuất khẩu là điểm sáng với kim ngạch đạt 59,48 tỷ USD, tăng 8,5% so với tháng trước; cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 1,27 tỷ USD. CPI tăng 0,62% so với tháng trước. Thu ngân sách Nhà nước tháng Chín ước đạt 162,7 nghìn tỷ đồng, chi ngân sách Nhà nước ước đạt 256,8 nghìn tỷ đồng. Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện chín tháng đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước, là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của chín tháng trong 5 năm qua. Thị trường lao động duy trì tích cực khi lao động có việc làm chín tháng đạt 52,7 triệu người, cao hơn 683,8 nghìn người; thu nhập bình quân đạt 9,1 triệu đồng/tháng, cao hơn 752,8 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.

Gỡ vướng để doanh nghiệp chủ động khuyến mại

Thái Thu
Thái Thu  - 
Đã chi tiền mua phần thưởng, làm tiếp thị, doanh nghiệp vẫn có thể phải nộp ngân sách khi không có người nhận thưởng. Từ vướng mắc này đến hạn mức và điều kiện dừng khuyến mại, những kiến nghị sửa đổi hướng tới giảm chi phí tuân thủ, bảo đảm quyền lợi khách hàng.
aa

Nhiều doanh nghiệp khuyến mại, kích cầu tiêu dùng dịp lễ

Cuộc đua bán lẻ: Lợi thế đang thuộc về ai?
Khách hàng lựa chọn hàng hóa tại siêu thị thuộc hệ thống Saigon Co.op trong đợt khuyến mại tri ân khách hàng.
Khách hàng lựa chọn hàng hóa tại siêu thị thuộc hệ thống Saigon Co.op trong đợt khuyến mại tri ân khách hàng. Ảnh: DN

Chi phí sau chương trình

Theo phản ánh của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), nhiều chương trình khuyến mại được thực hiện hợp pháp, trung thực nhưng vẫn còn giải thưởng không có người nhận. Nguyên nhân có thể do hiệu quả không đạt dự kiến hoặc điều kiện khách quan. Thương nhân đã mua giải thưởng hiện vật, chi tiếp thị nhưng vẫn phải nộp ngân sách, gây khó khăn tài chính.

VCCI nêu nội dung này khi trả lời Công văn số 3406/XTTM-QLXT của Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương về tổng kết thi hành pháp luật xúc tiến thương mại.

Theo Khoản 4 Điều 13 Nghị định 81/2018/NĐ-CP quy định trích nộp 50% giá trị giải thưởng đã công bố nếu không có người trúng thưởng. Theo VCCI, cơ chế này áp dụng như nhau với mọi giải thưởng còn lại, không phân biệt thương nhân đã tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng nhận thưởng hay chưa, gây thiệt hại cho doanh nghiệp tuân thủ.

Từ đó, VCCI đề nghị chỉ áp dụng khi thương nhân không bảo đảm điều kiện thuận lợi cho khách hàng nhận thưởng. Số chương trình, số tiền thu nộp và số trường hợp vi phạm cần được tổng kết, công bố để đánh giá chi phí, lợi ích.

Vướng mắc còn phát sinh khi doanh nghiệp trao thưởng chậm vì trở ngại khách quan. Khoản 5 Điều 13 ghi nhận căn cứ này, trong khi khoản 1 Điều 21 chỉ cho phép vượt thời hạn vì bất khả kháng. Theo VCCI, cùng tình huống có thể được chấp nhận để không trích nộp nhưng vẫn bị coi là quá hạn.

VCCI kiến nghị hướng dẫn rõ trở ngại khách quan; bổ sung căn cứ này vào ngoại lệ của thời hạn công bố kết quả trúng thưởng và trao giải, không quá 45 ngày kể từ ngày kết thúc khuyến mại; rà soát khoản 1 Điều 22 cho thống nhất.

Không chỉ ở khâu trao thưởng, doanh nghiệp còn gặp khó khi chương trình kém hiệu quả hoặc phát sinh tình huống ngoài dự kiến. Điều 22 chỉ cho phép dừng trước hạn khi bất khả kháng; hết số lượng hàng hóa, dịch vụ khuyến mại, hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại hoặc bằng chứng xác định trúng thưởng đã công bố; hoặc cơ quan nhà nước yêu cầu.

Để hài hòa lợi ích, VCCI đề nghị cho thương nhân chủ động dừng khi đáp ứng đồng thời các điều kiện công khai, bảo vệ khách hàng và thông báo cơ quan quản lý.

VCCI nêu rõ yêu cầu: “Bảo đảm đầy đủ quyền lợi của khách hàng đã tham gia trước thời điểm chấm dứt”.

Theo kiến nghị, việc chấm dứt phải được công khai bằng cách thức đã dùng để công bố chương trình và thông báo cho cơ quan quản lý đã tiếp nhận thông báo hoặc xác nhận đăng ký.

Tháo gỡ từ quy định gốc

VCCI ghi nhận thủ tục xúc tiến thương mại đã nhiều lần được điều chỉnh để giảm chi phí, như thu hẹp diện thông báo khuyến mại, đơn giản hóa hồ sơ. Tuy nhiên, văn bản hướng dẫn vẫn phải tuân thủ luật, nên việc tháo gỡ vướng mắc cần được xem xét từ Luật Thương mại năm 2005.

Theo VCCI, Điều 92 liệt kê hình thức khuyến mại, yêu cầu những hình thức khác phải được chấp thuận, tạo rào cản khi xuất hiện loại hình mới. Với giới hạn giá trị khuyến mại và mức giảm giá tại Điều 94, mục tiêu quản lý chưa rõ; pháp luật cạnh tranh đã có công cụ kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh.

VCCI nhận định: “Việc pháp luật về thương mại đặt ra giới hạn giá trị của hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, mức giảm giá tối đa đối với hàng hóa, dịch vụ khuyến mại là sự can thiệp hành chính vào quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp.”

Vì vậy, VCCI đề nghị xem xét bỏ các quy định gây vướng tại luật, gồm nghĩa vụ thực hiện thủ tục hành chính và trích nộp giá trị giải thưởng không có người trúng.

Ở cấp hướng dẫn, VCCI cho rằng Nghị định 239/2026/NĐ-CP giao Bộ Công Thương quy định hạn mức thay vì quy định tại nghị định chưa phù hợp thẩm quyền theo Luật Thương mại.

Văn bản góp ý đề cập giới hạn giá trị vật chất dùng để khuyến mại cho một đơn vị hàng hóa, dịch vụ không vượt quá 50% giá bán ngay trước khuyến mại. Tổng giá trị dùng để khuyến mại trong một số chương trình cũng bị giới hạn ở 50% tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại, có ngoại lệ.

VCCI đề nghị chỉ áp dụng giới hạn với hình thức tại khoản 9 Điều 92 Luật Thương mại và những hình thức chưa được quy định trong nghị định hướng dẫn.

Cách tính giải thưởng cũng cần rõ hơn khi phiếu giảm giá, phiếu ưu đãi được đối tác tài trợ miễn phí, sử dụng ngoài chương trình. Doanh nghiệp phản ánh tính các phiếu vào tổng giá trị giải thưởng khiến con số vượt xa chi phí thực tế. VCCI đề nghị làm rõ giá trị giải thưởng này.

Về dẫn chiếu, văn bản góp ý nêu Điều 6, Điều 7 của Nghị định 81/2018/NĐ-CP đã bị bãi bỏ, nhưng khoản 1 Điều 10, khoản 2 Điều 11 vẫn dẫn tới hai điều này, khiến doanh nghiệp lúng túng.

Ở khâu thực hiện, VCCI đề nghị làm rõ hồ sơ, cách thức, thời hạn thông báo thời gian, địa điểm phát hành bằng chứng trúng thưởng vào hàng hóa, hoặc đưa vào hồ sơ đăng ký để tránh thủ tục riêng.

Về chứng kiến, Điều 12 yêu cầu đại diện khách hàng, Điều 13 cho phép khách hàng chứng kiến trực tiếp hoặc trực tuyến. VCCI kiến nghị thống nhất cách dùng, làm rõ yêu cầu chữ ký biên bản khi chứng kiến trực tuyến.

Thái Thu

Tin liên quan

Tin khác

Điều gì giúp một thương hiệu vẫn được lựa chọn khi thói quen tiêu dùng liên tục thay đổi?

Điều gì giúp một thương hiệu vẫn được lựa chọn khi thói quen tiêu dùng liên tục thay đổi?

Trong số hàng nghìn doanh nghiệp được người tiêu dùng bình chọn qua ba thập kỷ, chỉ 28 doanh nghiệp duy trì danh hiệu Hàng Việt Nam Chất lượng cao liên tục 30 năm. Vinamilk là một trong số đó. Đằng sau con số này là hành trình nửa thế kỷ “không ngừng nâng chuẩn” trong khi yêu cầu của người tiêu dùng cũng không đứng yên.
50 năm Vinamilk: Sức bền của một thương hiệu không ngừng đổi mới

50 năm Vinamilk: Sức bền của một thương hiệu không ngừng đổi mới

Trong năm kỷ niệm 50 năm thành lập, Vinamilk liên tiếp được vinh danh tại nhiều giải thưởng và bảng xếp hạng. Mới nhất, doanh nghiệp được xướng tên tại Thương hiệu Mạnh 2026 và Better Choice Awards 2026, tiếp tục cho thấy sức mạnh thương hiệu được xây dựng trên nền tảng kinh doanh, đổi mới và năng lực cạnh tranh.
Làng nghề Hà Nội đánh thức giá trị truyền thống bằng công nghệ số

Làng nghề Hà Nội đánh thức giá trị truyền thống bằng công nghệ số

Hà Nội hiện có hơn 1.350 làng nghề với khoảng 176 nghìn hộ làm nghề, chiếm 45% tổng số làng nghề cả nước. Từ sơn mài, gốm sứ đến mây tre đan, thêu, lụa… mỗi nhóm sản phẩm đều mang dấu ấn riêng về chất liệu, kỹ thuật chế tác và giá trị văn hóa. Đây là lợi thế để hàng thủ công mỹ nghệ của Thủ đô tiếp cận nhiều phân khúc khách hàng từ đồ trang trí, quà tặng đến hàng gia dụng. Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường liên tục thay đổi, giữ nghề và phát huy giá trị truyền thống thôi chưa đủ. Bài toán đặt ra là làm thế nào để sản phẩm làng nghề tiếp cận đúng khách hàng, mở rộng đầu ra và nâng cao giá trị kinh tế.
Logistics xanh: Giảm chi phí vận tải, tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt

Logistics xanh: Giảm chi phí vận tải, tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt

Chuyển đổi xanh trong logistics giúp doanh nghiệp tối ưu vận chuyển, giảm chi phí, phát thải và nâng cao năng lực cạnh tranh trước những tiêu chuẩn khắt khe của chuỗi cung ứng toàn cầu.
Từ hiện đại hóa Core Banking đến hệ sinh thái số: Công nghệ quốc tế cần song hành cùng năng lực bản địa

Từ hiện đại hóa Core Banking đến hệ sinh thái số: Công nghệ quốc tế cần song hành cùng năng lực bản địa

Trong tiến trình chuyển đổi số, các ngân hàng Việt Nam không chỉ cần số hóa kênh giao dịch mà còn phải tái cấu trúc nền tảng công nghệ nhằm nâng cao năng lực vận hành, phát triển sản phẩm và đáp ứng kỳ vọng ngày càng cao của khách hàng. Trong đó, hiện đại hóa Core Banking là nhiệm vụ chiến lược, tạo nền tảng cho phát triển ngân hàng số, khai thác dữ liệu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo.
Hàng Việt trước những

Hàng Việt trước những 'cửa ải' mới trên thị trường quốc tế

Đầu tư công nghệ, cải tiến mẫu mã và nâng cao chất lượng đang giúp hàng Việt mở rộng cơ hội xuất khẩu. Tuy nhiên, sản phẩm tốt chưa đủ bảo đảm đơn hàng thành công. Những yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, an toàn sản phẩm và minh bạch chuỗi cung ứng đang đặt doanh nghiệp trước bài toán kiểm soát chi phí tuân thủ, bảo đảm dòng tiền và duy trì khách hàng quốc tế.
Mở cửa thị trường, vì sao dược liệu Việt vẫn khó xuất khẩu?

Mở cửa thị trường, vì sao dược liệu Việt vẫn khó xuất khẩu?

Dược liệu Việt Nam giàu tiềm năng, nhưng xuất khẩu chưa tương xứng lợi thế. Gỡ rào cản tiêu chuẩn, nâng chất lượng và chế biến sâu là yêu cầu cấp thiết.
Nguyên liệu tái chế -

Nguyên liệu tái chế - 'Chìa khóa' nâng sức cạnh tranh cho ngành dệt may

Trong cuộc đua xanh hóa ngành dệt may toàn cầu, nguyên liệu tái chế đang dần vượt khỏi vai trò một lựa chọn mang tính khuyến khích để trở thành yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận đơn hàng của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nghịch lý của ngành dệt may Việt Nam là mỗi năm phát sinh hàng trăm nghìn tấn vải vụn, nhưng phần lớn nguồn tài nguyên này chưa được khai thác tương xứng. Rào cản công nghệ, cơ chế quản lý và năng lực truy xuất nguồn gốc đang khiến cơ hội phát triển chuỗi cung ứng tuần hoàn chưa được chuyển hóa thành giá trị kinh tế thực chất.
Chuyên gia Việt tìm kiếm điều gì khi quyết định ra nước ngoài làm việc?

Chuyên gia Việt tìm kiếm điều gì khi quyết định ra nước ngoài làm việc?

Việt Nam đang nổi lên như một thị trường cung ứng nhân lực quốc tế tiềm năng cho các ngành công nghệ cao và kỹ thuật của thế giới nói chung và Phần Lan nói riêng. Dựa trên Bản Ghi nhớ hợp tác (MoU) giữa Bộ Nội vụ ( MOHA) và Bộ Kinh tế và Việc làm Phần Lan, sự hợp tác về nguồn nhân lực trình độ cao giữa hai quốc gia ngày càng trở nên chặt chẽ, bà Laura Lindeman, Giám đốc cấp cao đơn vị Work in Finland thuộc Business Finland đã chia sẻ về cơ hội nghề nghiệp tại Phần Lan và những vấn đề chuyên gia Việt cần quan tâm trước khi quyết định làm việc ở nước ngoài.
Mở rộng đường biên phát triển cho kinh tế tư nhân

Mở rộng đường biên phát triển cho kinh tế tư nhân

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới, vai trò của kinh tế tư nhân không còn được nhìn nhận đơn thuần ở phương diện tạo ra của cải, mà ngày càng gắn với năng lực kiến tạo, dẫn dắt và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.