Sản xuất cuối năm tăng tốc, doanh nghiệp tính bài toán hiệu quả
Tăng công suất, giữ chất lượng đơn hàng
Những tháng cuối năm là thời điểm nhiều nhà máy tập trung hoàn thành hợp đồng xuất khẩu và chuẩn bị nguồn hàng phục vụ Tết. Đơn hàng tăng tạo thêm việc làm, nhưng cũng buộc doanh nghiệp tính toán kỹ việc bố trí lao động, dự trữ nguyên liệu và tiến độ giao hàng.
![]() |
| Trong chặng nước rút, đơn hàng là điều kiện cần, còn năng suất, chất lượng và dòng tiền quyết định hiệu quả kinh doanh.l - Ảnh minh họa |
Tại Thái Nguyên, Công ty CP Đầu tư Quốc tế THAGACO đang huy động nhân lực, thiết bị tại Nhà máy may Đại Từ 1 để hoàn thành đơn hàng. Vào thời điểm cao điểm, người lao động được bố trí làm thêm 1-2 giờ mỗi ngày hoặc tăng ca phù hợp với kế hoạch sản xuất.
Theo đại diện doanh nghiệp, đơn hàng đã được ký đến quý II/2027, giúp duy trì việc làm cho hơn 4.000 lao động trong toàn công ty, với thu nhập bình quân 12-14 triệu đồng/người/tháng.
Trong năm 2026, THAGACO đưa Nhà máy may Thagaco Smart Green Định Hóa vào vận hành, đồng thời bổ sung máy cắt, máy ép nhiệt và chuyền treo tại hai nhà máy Đại Từ. Theo doanh nghiệp, các cải tiến góp phần nâng hiệu suất làm việc khoảng 20%.
Ông Ngô Mạnh Cường, Giám đốc Nhà máy may Đại Từ 1, cho biết thiết bị mới giúp rút ngắn thời gian một số công đoạn. Dù vậy, với hàng xuất khẩu, tiến độ phải đi cùng chất lượng ổn định và việc tuân thủ yêu cầu kỹ thuật của đối tác.
Ở lĩnh vực kết cấu thép, Công ty CP Kết cấu thép và Xây dựng Tân Khánh cũng chuẩn bị đáp ứng nhu cầu cuối năm. Ông Phạm Thanh Bình, Giám đốc Công ty, cho biết đơn vị cung cấp khoảng 500 tấn kết cấu thép mỗi tháng; lượng đơn hàng dịp cuối năm thường tăng 15-20%.
Doanh nghiệp đầu tư máy cắt, máy hàn tự động và hệ thống làm sạch bằng phun bi để nâng năng lực gia công.
Chủ động nguyên liệu, đa dạng đầu ra
Tại Ninh Bình, Công ty Cổ phần Thương mại Sơn Việt Nhật 68 đang mở rộng thị trường, chuẩn bị đơn hàng cho năm 2027. Bà Phạm Duy, Tổng Giám đốc Công ty, cho biết sản lượng quý III đạt khoảng 60-80 tấn mỗi tháng.
Doanh nghiệp xây dựng mạng lưới gồm 12 công ty thành viên và hơn 500 đại lý trên toàn quốc, đồng thời phát triển thêm sản phẩm tiêu dùng bên cạnh sơn nước. Việc đa dạng hóa mặt hàng và kênh phân phối giúp mở rộng khách hàng, nhưng đòi hỏi quản lý tốt tồn kho, vận chuyển và hiệu quả bán hàng.
Trong chế biến nông sản, Công ty Cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao (DOVECO) tập trung hoàn thành đơn hàng trong nước và xuất khẩu. Theo kế hoạch quý IV, riêng DOVECO Ninh Bình dự kiến sản xuất 27.500 tấn dứa, 6.800 tấn ngô ngọt, 12.300 tấn chanh leo và 5.200 tấn nước quả.
Ông Nguyễn Thanh Tùng, Phó Tổng Giám đốc DOVECO, cho biết doanh nghiệp đẩy mạnh chế biến sâu, khai thác công suất các trung tâm tại Ninh Bình, Sơn La và Gia Lai, đồng thời mở rộng vùng nguyên liệu liên kết với nông dân.
Đối với ngành chế biến nông sản, nhà máy có công suất lớn nhưng thiếu nguyên liệu ổn định sẽ khó vận hành hiệu quả. Liên kết vùng trồng giúp doanh nghiệp chủ động lịch thu mua, kiểm soát chất lượng và giảm nguy cơ gián đoạn sản xuất khi nhu cầu tăng.
DOVECO hiện có sản phẩm tại hơn 30 quốc gia và vùng lãnh thổ. Bên cạnh xuất khẩu, doanh nghiệp phát triển sản phẩm phục vụ thị trường nội địa, trong đó có ngô ngọt đóng hộp giấy.
Tăng doanh thu phải gắn với hiệu quả vốn
Bức tranh sản xuất địa phương ghi nhận tín hiệu tích cực. Theo số liệu chín tháng năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp Ninh Bình tăng 25,01% so với cùng kỳ, trong đó chế biến, chế tạo tăng 25,38%. Tại Thái Nguyên, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 23%, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 29,1 tỷ USD, tăng 22,82%.
Dù vậy, tốc độ tăng chung không phản ánh đồng đều tình hình từng doanh nghiệp. Giá nguyên liệu, vận tải, tỷ giá và sức mua có thể ảnh hưởng đến biên lợi nhuận, ngay cả khi số lượng đơn hàng cải thiện.
Ông Phạm Thái Sơn, Tổng Giám đốc Công ty CP CNT Group, cho biết doanh thu từ đầu năm tăng hơn 10% so với cùng kỳ; thu nhập bình quân người lao động đạt 11 triệu đồng/người/tháng.
Tuy nhiên, doanh thu tăng không đồng nghĩa lợi nhuận tăng tương ứng. Khi mở rộng sản xuất, doanh nghiệp phải ứng trước tiền mua nguyên liệu, trả lương và vận hành máy móc trong khi khoản thanh toán từ khách hàng có thể đến sau. Nếu quản lý công nợ thiếu chặt chẽ, áp lực vốn lưu động sẽ lớn hơn.
Vì vậy, kế hoạch tăng công suất cần gắn với dự báo thị trường, khả năng thu hồi tiền hàng và thời gian hoàn vốn của thiết bị. Nâng năng suất, giảm tỷ lệ hàng lỗi và sử dụng năng lượng tiết kiệm có thể tạo dư địa cải thiện lợi nhuận bền vững hơn việc chỉ tăng sản lượng.
Ông Hoàng Chí Dũng, Phó Giám đốc Sở Công Thương Ninh Bình, cho biết địa phương tập trung hỗ trợ doanh nghiệp duy trì sản xuất, thực hiện hợp đồng đã ký và tìm kiếm đơn hàng mới. Việc tháo gỡ khó khăn cần hướng vào những vướng mắc trực tiếp ảnh hưởng tiến độ sản xuất, giao hàng.
Cùng với kết nối cung cầu, phát triển thương mại điện tử và cải thiện hạ tầng, hỗ trợ doanh nghiệp nâng năng lực quản trị cũng có ý nghĩa thiết thực. Trong chặng nước rút, đơn hàng là điều kiện cần, còn năng suất, chất lượng và dòng tiền quyết định hiệu quả kinh doanh. Điều này càng quan trọng khi doanh nghiệp giữ giá bán, bảo đảm thu nhập cho người lao động và đáp ứng tiêu chuẩn đối tác. Chủ động những yếu tố này sẽ giúp doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch năm 2026 và chuẩn bị nền tảng cho năm 2027.
Tin liên quan
Tin khác
Nhận diện rủi ro vận hành trước khi mở rộng quy mô doanh nghiệp
Trụ cột khoa học công nghệ nâng tầm giá trị nông sản
Top doanh nghiệp uy tín 2026: Trụ cột tăng trưởng bền vững
Chỉ dẫn địa lý - Cần nhưng chưa đủ
Quản trị pháp lý trong kinh doanh: Nhỏ nhưng không thể xem nhẹ
SME có cần kế hoạch dự phòng khủng hoảng?
Mở rộng ‘bệ phóng’ trợ lực doanh nghiệp nhỏ và vừa
Concert kín phòng, khách sạn chưa chắc sinh lời
Công nghệ giúp sự kiện đi từ 'đông người' sang 'đúng người'

