Hà Nội: Giá chung cư tiếp tục tăng mạnh

11:13 | 14/10/2022

Theo bà Nguyễn Hoài An - Giám đốc CBRE chi nhánh Hà Nội, nguồn cung nhà ở mở bán mới tại Hà Nội trong 9 tháng đầu năm 2022 tăng trưởng nhẹ so với cùng kỳ năm 2021, mặc dù vẫn thấp hơn đáng kể so với giai đoạn trước dịch bệnh.

Cụ thể, trong thời gian này, thị trường Hà Nội ghi nhận 11.805 căn mở bán mới, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, quý III/2022 ghi nhận 3.640 căn mở bán mới, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước. 59% các sản phẩm mở bán mới trong quý đến từ phía Tây Hà Nội, tiếp theo khu phía Nam đóng góp 19% tổng nguồn cung mới. Trong quý III/2022, số lượng sản phẩm cao cấp chiếm 67% tổng số sản phẩm trung - cao cấp. Tổng thể, trong 9 tháng đầu năm 2022, thị trường cũng chứng kiến sự chuyển dịch của sản phẩm căn hộ cao cấp được mở bán tăng lên, chiếm khoảng 59% nguồn cung trong quý.

ha noi gia chung cu tiep tuc tang manh

Báo cáo mới nhất về thị trường bất động sản Hà Nội quý III/2022 của Savills cũng cho thấy, nguồn cung mở bán tại Hà Nội có tới 80% là căn hộ hạng B, 13% là hạng A và 7% là căn hộ hạng C. Nguồn cung sơ cấp gồm 21.040 căn, tăng 17% theo quý và 7% theo năm, trong đó hạng B chiếm 85% thị phần, theo sau là hạng C với 8%. Giao dịch căn hộ hạng B chiếm 64% thị phần. Tỷ lệ hấp thụ của các dự án mới mở bán đạt 33%.

Bà An chia sẻ: "Những diễn biến trong nước với bối cảnh thị trường quốc tế và khu vực có nhiều biến động khiến các chủ đầu tư thận trọng hơn khi mở bán sản phẩm mới. Điều này khiến cho nguồn cung mới trong 9 tháng đầu năm nay chưa có dấu hiệu phục hồi".

Do nguồn cung hạn chế, chất lượng các dự án đang được cải thiện cùng với giá vật liệu xây dựng tăng, dẫn đến giá căn hộ tăng. Theo CBRE, giá bán căn hộ trên thị trường sơ cấp trong quý II/2022 được ghi nhận trung bình ở mức khoảng 45.360.000 VND/m2 (chưa bao gồm VAT và phí bảo trì), cao hơn 23% so với mức giá trung bình của các dự án mở bán cùng kỳ năm trước, chủ yếu do phân khúc cao cấp chiếm tỷ trọng cao hơn trong tổng nguồn cung đang chào bán trên thị trường. "Trong hơn 2 năm trở lại đây, với việc nguồn cung mới hàng năm ở ngưỡng vừa phải, các khu vực khác nhau tại thành phố lần lượt nâng cấp định vị và tăng giá, tiêu biểu như khu vực quận Từ Liêm, hay huyện Gia Lâm - nơi tập trung các khu đô thị lớn, mức giá sơ cấp trung bình hiện tại cao hơn 62% - 82% so với thời điểm trước dịch Covid-19", bà An chia sẻ.

Giá bán thứ cấp trung bình toàn thị trường ghi nhận ở mức khoảng 32.083.000 VND/m2, cao hơn 14% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, các quận trung tâm như Hai Bà Trưng, Ba Đình, Đống Đa, Tây Hồ, ghi nhận mức tăng 8-16% theo năm. Đây là quý thứ ba liên tiếp thị trường thứ cấp ghi nhận mức tăng giá theo năm từ 9% trở lên cao hơn giai đoạn trước, khi các biến động giá thường chỉ ở ngưỡng 2-4% theo năm.

Hiện trên thị trường giá căn hộ từ 2 - 4 tỷ đồng chiếm 85% nguồn cung, tăng mạnh từ mức 15% trong năm 2018. Căn hộ có giá dưới 2 tỷ đồng chiếm 12%, còn lại là các căn hộ có giá trên 4 tỷ đồng.

Bà An dự báo, nguồn cung căn hộ mở bán mới tại Hà Nội trong năm 2022 dự kiến sẽ đạt khoảng 18.000 - 20.000 căn. Với khối lượng tương đối hạn chế này, giá bán sơ cấp trung bình tại Hà Nội được dự báo sẽ tiếp tục đạt tỷ lệ tăng trưởng kép trung bình hàng năm (CAGR) từ 8-10% tới năm 2024.

Hồng Hạnh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700