Hàn Quốc đang thực hiện phá giá tiền tệ?

14:00 | 20/04/2015

Trong bản báo cáo gần đây nhất của Bộ Tài chính đưa ra vào hồi giữa tháng 4 vừa qua, các quan chức Chính phủ Mỹ đã đưa ra cáo buộc cho rằng Hàn Quốc đang thực hiện các biện pháp can thiệp nhằm giảm giá đồng tiền, từ đó hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu trong nước. 

Ảnh minh họa

Như vậy, sau Trung Quốc, Hàn Quốc là quốc gia thứ hai đã bị Mỹ chỉ trích đích danh về việc thực hiện chính sách đồng tiền yếu.

Giai đoạn từ năm 2014 trở lại đây, đồng Won Hàn Quốc liên tục phải đối mặt với áp lực tăng giá mạnh trước một số đồng tiền chủ chốt như đồng Yên Nhật và đồng Euro khi các quốc gia này liên tục tung ra các chương trình nới lỏng định lượng.

Theo đó, đồng Won đã lên giá 10% so với đồng Yên Nhật trong vòng 1 năm qua và cũng tăng giá gần 10% so với đồng Euro chỉ trong vòng chưa đầy 3 tháng đầu năm nay. Điều này khiến xuất khẩu của Hàn Quốc gặp nhiều khó khăn và ảnh hưởng không nhỏ đến tăng trưởng kinh tế của xứ sở kim chi, do xuất khẩu đóng một vai trò là động lực thúc đẩy tăng trưởng quan trọng tại quốc gia này.

Trước tình hình đó, kể từ giữa năm 2014 Hàn Quốc đã thực hiện nhiều biện pháp nới lỏng tiền tệ, trong đó đã liên tục thực hiện cắt giảm lãi suất trong các tháng 8, tháng 10/2014 và tháng 3/2015. Sau lần cắt giảm lãi suất cuối cùng thì hiện tại lãi suất cơ bản tại Hàn Quốc đang ở mức thấp kỷ lục 1,75%. Những động thái chính sách này theo NHTW Hàn Quốc (BoK) là nhằm thúc đẩy tăng trưởng tiêu dùng nội địa, từ đó hỗ trợ tăng trưởng kinh tế vẫn đang ở mức thấp.

Tuy nhiên trên thực tế quyết sách này cũng có tác động hỗ trợ rất nhiều đối với đồng nội tệ Hàn Quốc. Từ sau khi thực hiện các quyết định cắt giảm lãi suất, sức ép tăng giá đối với đồng Won so với các đồng tiền chủ chốt khác đã giảm bớt khá nhiều. Đặc biệt đồng tiền này còn hình thành xu hướng giảm giá mạnh so với đồng USD, khi kể từ tháng 6/2014 trở lại đây, đồng tiền này đã mất khoảng gần 10% giá trị so với USD.

Với sự giảm giá của đồng Won so với đồng USD, xuất khẩu của Hàn Quốc vào Mỹ đang thể hiện nhiều tín hiệu tích cực khi thặng dư thương mại của Hàn Quốc vào Mỹ trong nửa cuối năm 2014 đạt 15 tỷ USD, nhiều gần gấp 3 lần so với mức thặng dư đạt được của cùng kỳ năm trước.

Những diễn biến hiện tại của tỷ giá đồng Won so với đồng USD, cũng như căn cứ trên diễn biến thực tế của hoạt động xuất khẩu thì rõ ràng các lo ngại của Chính phủ Mỹ không phải là không có cơ sở.

Tuy nhiên, đứng trước sức ép từ phía Mỹ, Chính phủ Hàn Quốc vẫn khẳng định quốc gia này không thực hiện bất kỳ biện pháp can thiệp nào để làm giảm giá đồng tiền.

Theo ông Song In Chan, Giám đốc Ủy ban Tài chính quốc tế của Hàn Quốc, trong thời gian qua, BoK không can thiệp trực tiếp vào thị trường mà chỉ tiến hành những điều chỉnh cần thiết nhằm đảm bảo cho tỷ giá đồng Won không có sự biến động quá mạnh và những điều chỉnh này hoàn toàn nằm trong sự cho phép của cộng đồng quốc tế.

Trong thời gian tới, khi môi trường vĩ mô và tài chính toàn cầu vẫn còn những biến động khó dự đoán, những hành động tương tự của BoK là vẫn cần thiết để đảm bảo duy trì sự ổn định của thị trường tài chính trong nước.

Minh Đức

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.550 27.904 29.537 30.0771 211,03 221,12
BIDV 23.085 23.265 26.826 27.903 29.933 30.573 213,08 221,70
VietinBank 23.080 23.270 26.938 27.903 29.933 30.573 215,99 224,49
Agribank 23.085 23.255 26.898 27.489 29.880 30.525 214,93 220,06
Eximbank 23.080 23.250 26.980 27,448 30.008 30.528 216,33 220,08
ACB 23.080 23.250 26.992 27.464 30.141 30.546 216,32 220,32
Sacombank 23.074 23..284 27.056 27.615 30.124 30.634 216,13 222,45
Techcombank 23.070 23.270 26.726 27.429 29.668 30.796 214,67 223,83
LienVietPostBank 23.100 23.260 27,201 27.702 30.161 30.621 219,28 223,32
DongA Bank 23.110 23.240 26.960 27.440 29.970 30.500 212,40 219,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
60.600
62.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
60.600
62.200
Vàng SJC 5c
60.600
62.220
Vàng nhẫn 9999
56.250
57.550
Vàng nữ trang 9999
55.850
57.250