Hồng Kông trở lại ngôi vị thành phố có giá thuê nhà đất đắt nhất thế giới

07:15 | 23/10/2018

Lần đầu tiên kể từ năm 2011, Hồng Kông đã vượt qua New York để trở thành thành phố có giá thuê nhà đất đắt đỏ nhất thế giới theo số liệu từ Chỉ số Sống/Làm việc của Savills (Savills Live/Work Index).

London - thành phố giữ vị trí đầu bảng từ năm 2011 đến năm 2015 hiện đứng thứ ba sau vị trí thứ hai là New York. Tuy nhiên, câu chuyện đáng đề cập trong năm qua là sự gia tăng chi phí ở các thành phố lớn tại Châu Âu và Trung Quốc (chi tiết ở bảng dưới).

Nguồn: Nghiên cứu Savills

Chi phí nhà ở và văn phòng trung bình tại Hồng Kông hiện tại là 112.400 USD/năm, tăng 5% trong vòng 12 tháng. Chi phí cho những phân khúc tương tự tại New York là 108.200 USD/năm, giảm 1,7% theo năm; giá thuê tại London giảm 1,3%, tính theo bảng Anh, xuống mức 96.000 USD/năm. Do biến động của tỷ giá hối đoái nên khi tính theo USD thì giá thuê tại London thực tế đã tăng 2,7% so với cùng kỳ năm ngoái.

Nguồn cung hạn chế đã đẩy giá thuê nhà ở tại Hồng Kông lên cao, đặc biệt tại các phân khúc thị trường cao cấp. Mặt khác, giá thuê văn phòng gia tăng do nhu cầu từ các công ty từ Trung Quốc đại lục, các công ty khai thác công nghệ và các đơn vị vận hành không gian làm việc chung (co- working).

Trái lại, giá thuê nhà tại New York tiếp tục giảm do nguồn cung dồi dào, trong khi giá thuê văn phòng giảm nhẹ do xu hướng cắt giảm nhân sự và thu nhỏ mặt bằng văn phòng của các công ty.

Tại thị trường Châu Âu, thủ đô nước Anh vẫn là thành phố đắt đỏ nhất so với các thành phố Châu Âu khác nếu tính theo chi phí thuê nhà ở và văn phòng. Tuy vậy, khoảng cách này đang dần thu hẹp. Sự phát triển nhanh và mạnh của nền kinh tế tại các thành phố khác tại Châu Âu đang tạo đà cho sự tăng trưởng trong giá thuê, đồng thời đồng Euro tăng giá cũng khiến các thành phố này trở nên đắt đỏ hơn đối với các doanh nghiệp nằm ngoài liên minh Châu Âu (EU).

Amsterdam hiện tại xếp vị trí thứ 2 tại Châu Âu sau khi giá thuê tăng 16% so với năm trước nếu tính theo USD (11,3% nếu tính theo đồng nội tệ), chủ yếu do chi phí nhà ở tăng. Chi phí cho mỗi nhân viên làm việc và sinh sống tại Amsterdam hiện là 62.800 USD/năm, rẻ bằng 1/3 so với London; tuy nhiên, chi phí này vẫn sẽ tiếp tục tăng.

Tại thị trường Châu Á, xét về chi phí sống và làm việc, Hồng Kông đang đứng tại vị trí biệt lập so với các thị trường khác trên toàn Châu Á. Tuy vậy, các thành phố đại lục Trung Quốc cũng đã tăng thứ hạng nhanh chóng trong những năm gần đây.

Thành phố đắt đỏ nhất trong số đó là Bắc Kinh với tổng chi phí cho thuê là 54.900 USD/người, thấp hơn 1 nửa so với Hồng Kông, giảm 0,2% (5,5% nếu tính theo đồng nội tệ) so với năm trước, nhờ các biện pháp bình ổn thị trường đã và đang được triển khai.

Thâm Quyến đã tăng từ vị trí thứ 20 lên vị trí thứ 16 trong bảng chỉ số của Savills, trở thành một trong những thành phố có sự nhảy vọt đáng kể nhất trong thứ hạng. Chi phí tăng 14,4% tính theo đồng nội tệ và 20,9% tính theo USD, lên mức 48.700 đô la Mỹ, đứng sau Thượng Hải, nơi chi phí dừng lại ở ngưỡng 49.300 USD/năm.

Mức tăng giá thuê tại các thành phố khác của Trung Quốc dao động từ 8% ở Trùng Khánh đến 22% ở Thiên Tân – ngưỡng tăng trưởng cao nhất trong chỉ số của Savills. Mặc dù vậy, chi phí sống/làm việc của mỗi nhân viên tại đây chỉ tương đương với khoảng 1/7 chi phí tại Hồng Kông.

Hải Yến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.030 23.340 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.070 23.350 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.050 23.350 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.050 23.330 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.090 23.310 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.100 23.310 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.062 23.550 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.067 23.352 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.080 23.325 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.120 23.310 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.400
69.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.400
69.400
Vàng SJC 5c
68.400
69.420
Vàng nhẫn 9999
54.150
55.150
Vàng nữ trang 9999
53.950
54.750