JICA hỗ trợ giám sát lượng phát thải khí nhà kính của hệ thống đường sắt đô thị

14:01 | 05/11/2019

Trong các ngày 4/11 tại Hà Nội và 5/11 tại TP. HCM, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của tất cả các bên liên quan về kết quả đánh giá giữa kỳ của “Khảo sát thu thập dữ liệu để phát triển Hệ thống Đo lường, báo cáo và kiểm chứng (MRV) trong ngành đường sắt đô thị ở Việt Nam”.

Hoàn thiện pháp luật về giao dịch bảo đảm
JICA viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam để kiểm soát an toàn thực phẩm

Với sự phối hợp của Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Sở Tài nguyên và Môi trường TP. HCM, JICA đang triển khai Khảo sát này (được thực hiện từ tháng 2/2019 đến tháng 9/2020).

Đối tượng của khảo sát là tuyến đường sắt đô thị số 1 và số 2 tại Hà Nội và tuyến đường sắt đô thị số 1 tại TP. HCM. Đây là các tuyến đường sắt đô thị sử dụng nguồn vốn ODA của Chính phủ Nhật Bản.

Khảo sát được thiết kế nhằm ước tính lượng phát thải khí nhà kính (KNK) có thể giảm được tại ba tuyến đường sắt đô thị, từ đó cung cấp cơ sở khoa học để thúc đẩy sử dụng các phương tiện giao thông có mức phát thải thấp bao gồm  đường sắt đô thị ở các khu vực đô thị như Hà Nội và TP. HCM.

Theo dữ liệu kiểm kê KNK năm 2013 của TP. HCM do JICA hỗ trợ thành phố xây dựng, lượng phát thải của thành phố chiếm tới 16% tổng lượng phát thải KNK quốc gia trong khi dân số của thành phố chỉ chiếm 9% tổng dân số toàn quốc. Trong đó, chỉ riêng lĩnh vực giao thông vận tải có lượng phát thải chiếm 45% tổng lượng phát thải của thành phố.

Đường sắt đô thị được coi là giải pháp phương tiện giao thông phát thải thấp với lượng khí thải CO2 thấp hơn so với xe máy hoặc ô tô. Trong tương lai khi các hệ thống đường sắt đô thị được phát triển để đáp ứng nhu cầu vận tải hành khách đang tăng lên nhanh chóng, các khu vực đô thị như Hà Nội và TP. HCM sẽ đóng góp đáng kể vào mục tiêu quốc gia về giảm phát thải KNK mà chính phủ đã cam kết trong Báo cáo đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) được trình lên Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi Khí hậu năm 2015.

Phát triển hệ thống đường sắt đô thị không chỉ là lựa chọn tiềm năng để giảm thiểu phát thải KNK mà còn là một giải pháp hiệu quả cho vấn đề tắc nghẽn giao thông và ô nhiễm không khí, đặc biệt là ở các nước châu Á khi ùn tắc giao thông ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của người dân và mức độ ô nhiễm không khí ngày càng tăng với tốc độ đáng báo động như hiện nay.

Theo kết quả phỏng vấn các hộ dân tại Hà Nội và TP. HCM do Khảo sát này tiến hành, phần lớn những người được hỏi (81% đang sống dọc theo Tuyến số 1 ở TP. HCM và 66% đang sống dọc theo Tuyến số 1 ở Hà Nội) cho biết, họ sẵn sàng sử dụng hệ thống giao thông đường sắt đô thị trong tương lai.

“Khi số lượng người tham gia giao thông chuyển từ sử dụng phương tiện cá nhân sang hệ thống đường sắt đô thị, không khí và chất lượng sống đô thị cũng sẽ được cải thiện”, ông Murooka Naomichi, Phó Trưởng Đại diện của Văn phòng JICA Việt Nam nhận định. “Chúng tôi hy vọng rằng cuộc khảo sát sẽ nâng cao nhận thức của người dân thành phố Hà Nội và TP. HCM về vai trò của các dự án đường sắt đô thị không chỉ trong việc cải thiện giao thông nội đô mà còn góp phần vào các nỗ lực chống biến đổi khí hậu trên toàn cầu”.

Theo Giáo sư Atsushi Fukuda (Đại học Nihon), một chuyên gia nổi tiếng về phát triển và đánh giá tác động môi trường của hệ thống đường sắt đô thị, đồng thời là cố vấn của cuộc khảo sát, các tuyến đường sắt đô thị sẽ trở thành một phần quan trọng trong mạng lưới giao thông công cộng nhằm cải thiện giao thông đô thị và kết nối các siêu đô thị như Hà Nội và TP. HCM với các khu vực lân cận.

Ông Mai Tuấn Anh, Trưởng phòng Khí tượng Thủy văn và Biến đổi Khí hậu, Sở TN&MT TP. HCM, đánh giá cao sự hỗ trợ của JICA và mong muốn cuộc khảo sát sẽ cung cấp dữ liệu tin cậy và phương pháp luận khoa học để TP. HCM có thể giám sát hoạt động của các tuyến đường sắt đô thị trong tương lai. Việc phát triển đường sắt đô thị được xác định là một trong những hoạt động ưu tiên trong Kế hoạch hành động về ứng phó với biến đổi khí hậu của thành phố giai đoạn 2021-2025.

ĐP

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.305 24.601 25.725 29.563 30.187 201,88 211,10
BIDV 23.170 23.310 24.945 25.709 29.697 30.302 203,03 210,54
VietinBank 23.162 23.312 24.860 25.695 29.626 30.266 206,86 211,86
Agribank 23.185 23.290 24.944 25.354 29.957 30.471 209,00 212,98
Eximbank 23.160 23.290 24.874 25.239 29.748 30.185 207,03 210,07
ACB 23.160 23.290 24.879 25.233 29.830 30.177 207,00 209,94
Sacombank 23.135 23.297 24.891 25.346 29.813 30.218 206,32 210,89
Techcombank 23.145 23.305 24.646 25.608 29.435 30.381 205,75 212,50
LienVietPostBank 23.170 23.290 24.813 25.297 29.980 30.450 209,17 213,23
DongA Bank 23.190 23.280 24.930 25.250 29.790 30.180 204,00 209,70
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
44.050
44.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.050
44.400
Vàng SJC 5c
44.050
44.420
Vàng nhẫn 9999
44.050
44.550
Vàng nữ trang 9999
43.600
44.400