Khắc phục nhanh nhất hậu quả thiên tai và nỗ lực đạt cao nhất mục tiêu của cả năm 2020

20:35 | 30/10/2020

Tại buổi họp báo Chính phủ thường kỳ diễn ra chiều 30/10, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ (VPCP) Mai Tiến Dũng cho biết tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 10/2020, dưới sự chủ trì của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.

khac phuc nhanh nhat hau qua thien tai va no luc dat cao nhat muc tieu cua ca nam 2020 Thủ tướng yêu cầu tăng tốc trong 2 tháng cuối năm
khac phuc nhanh nhat hau qua thien tai va no luc dat cao nhat muc tieu cua ca nam 2020 Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc: Hỗ trợ tiền cho người dân sửa nhà sập đổ, hư hỏng nặng
khac phuc nhanh nhat hau qua thien tai va no luc dat cao nhat muc tieu cua ca nam 2020

Nhiều kết quả tích cực

Trong phiên họp này, Chính phủ đã tập trung thảo luận về hai nội dung lớn: Tình hình thiên tai, bão lũ tại miền Trung và công tác ứng phó, tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai, ổn định cuộc sống người dân; Tình hình kinh tế - xã hội (KTXH) tháng 10 và 10 tháng đầu năm.

Các thành viên Chính phủ đánh giá, diễn biến thiên tai trong tháng 10 vừa qua là rất nghiêm trọng và công tác chỉ đạo, điều hành ứng phó thiên tai, tìm kiếm cứu nạn cũng chủ động, quyết liệt ở mức độ chưa từng có. 

Nhờ sự vào cuộc nhanh của cả hệ thống chính trị, đặc biệt với sự vào cuộc của lực lượng quân đội, công an và các bộ, ngành, địa phương; sự chung sức, đồng lòng, ủng hộ của người dân vùng thiên tai và nhân dân cả nước, chúng ta đã hạn chế tối đa, giảm thiểu được thiệt hại.

Bão lũ lịch sử gây thiệt hại nặng nề nhưng càng khó khăn chúng ta càng thấy tình thương yêu, đùm bọc của đồng bào, đồng chí, thấy sự đoàn kết, chung sức chung lòng của cả dân tộc trong khó khăn.

Bộ trưởng, Mai Tiến Dũng cho biết, mặc dù gặp những khó khăn rất lớn vì dịch COVID-19, bão lũ… nhưng chúng ta vẫn giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; nhiều mục tiêu phát triển KTXH của năm được giữ vững, an sinh xã hội được bảo đảm, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được củng cố.

Tình hình KTXH tháng 10 cơ bản bình thường trở lại và tiếp tục có sự cải thiện hơn so với các tháng trước. Nền kinh tế nước ta đã qua đáy trong quý II và đang phục hồi theo hình chữ V trong quý III.

Nhiều tổ chức quốc tế đánh giá tích cực về kinh tế Việt Nam. IMF nhận định Việt Nam là nền kinh tế tăng trưởng dương duy nhất trong ASEAN với GDP năm 2020 và 2021 lần lượt đạt tăng trưởng 1,6% và 6,7%.

Ngân hàng Standard Chartered dự báo Việt Nam sẽ đạt mức tăng trưởng 3% trong năm 2020 và 7,8% vào năm 2021. Ngân hàng Thế giới cũng dự báo kinh tế Việt Nam tăng trưởng 2,5 đến 3% năm 2020.

Tốc độ giải ngân vốn đầu tư công là điểm sáng khi tháng 10 và 10 tháng đều đạt mức cao nhất trong giai đoạn 2016-2020. Giải ngân tháng 10 tăng 42,2%; 10 tháng tăng 34,4%.

Bên cạnh đó, trong bối cảnh dịch COVID-19 tiếp tục diễn biến phức tạp trên thế giới làm đứt gãy thương mại quốc tế, hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vẫn khá tích cực. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt hơn 439 tỷ USD, tăng 2,5%; xuất khẩu ước đạt gần 229 tỷ USD, tăng 4,5%; nhập khẩu ước đạt hơn 210 tỷ USD, tăng 0,4%. Xuất siêu kỷ lục hơn 18,7 tỷ USD. Chúng ta đã có 31 mặt hàng xuất khẩu đạt hơn 1 tỷ USD và 5 mặt hàng xuất khẩu hơn 10 tỷ USD.

Nông nghiệp tiếp tục giữ ổn định thể hiện vai trò trụ đỡ của nền kinh tế, trong khi sản xuất công nghiệp tháng 10/2020 tiếp tục khởi sắc, mở ra hy vọng sớm phục hồi và tăng trưởng kinh tế trong những tháng cuối năm 2020; đặc biệt là ngành chế biến, chế tạo với mức tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước.

Thương mại dịch vụ trong tháng 10 cũng tiếp tục xu hướng tăng (tăng 2,4% so với tháng trước và tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước). Hàng hóa dồi dào, hoạt động kích cầu tiêu dùng nội địa được tích cực triển khai hiệu quả.

Số lượng doanh nghiệp thành lập mới tháng 10 khởi sắc, tăng 18,4% so với tháng trước. Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 10,4% so với cùng kỳ. 10 tháng đã có gần 111.200 doanh nghiệp thành lập mới.

Khó khăn, thách thức còn rất lớn

Bộ trưởng, Mai Tiến Dũng thông tin, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nhận định các khó khăn, thách thức trong thời gian tới còn rất lớn và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Do đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xác định: Trước hết, các bộ, ngành, địa phương cần tập trung, dồn “cả tâm cả sức” khắc phục nhanh nhất hậu quả thiên tai nặng nề tại các tỉnh miền Trung, nhanh chóng ổn định cuộc sống người dân.

Khẩn trương có phương án chạy đua với thời gian, cứu người là ưu tiên cao nhất, không để người dân bị đói, rét, màn trời chiếu đất. Khẩn trương khôi phục lại cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động sản xuất và đời sống của người dân; hỗ trợ người dân về giống và vốn để phục hồi sản xuất; nhanh chóng đưa học sinh trở lại trường, có giải pháp hỗ trợ tốt nhất cho học sinh sinh viên, các địa phương bị ảnh hưởng mưa lũ, bảo đảm duy trì chương trình, nội dung học tập, không để các em thiếu sách vở đồ dùng học tập; hết sức chú ý có phương án chủ động ứng phó với các đợt bão lũ, thiên tai có thể tiếp tục xảy ra.

“Thủ tướng nêu rõ, càng khó khăn, chúng ta càng quyết tâm hơn nữa, ý chí hơn nữa để đưa đất nước tiến lên. Tình cảm tương thân tương ái của nhân dân cả nước với miền Trung chính là phải tăng sức sản xuất, phải làm nhiều hơn nữa để bù đắp cho tổn thất, mất mát về cơ sở vật chất, đời sống của người dân miền Trung”, Bộ trưởng, Mai Tiến Dũng cho biết.

Tại phiên họp, Chính phủ, Thủ tướng đã xác định những lĩnh vực ưu tiên cụ thể tập trung triển khai thực hiện trong 2 tháng cuối năm 2020 nhằm đạt cao nhất mục tiêu của cả năm. Cụ thể là các giải pháp về chính sách tiền tệ, tài khóa hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho doanh nghiệp, người dân, nhất là nhóm bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch COVID-19; tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa giải ngân vốn đầu tư công, nhất là các chương trình, dự án ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài.

Cùng với đó là các giải pháp khơi thông được các luồng vốn tín dụng, đầu tư tư nhân và có biện pháp kích cầu tiêu dùng mạnh mẽ hơn; triển khai các giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu, tiếp tục khơi thông xuất khẩu vào các thị trường trọng điểm; đẩy mạnh tăng trưởng thương mại điện tử.

Tại họp báo, phóng viên đã hỏi về kết quả thực hiện Nghị quyết 42 về xử lý nợ xấu trong 3 năm qua? Vì sao có nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) công bố kết quả kinh doanh quý III trong đó ghi nhận nợ xấu tăng mạnh; và các giải pháp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) thời gian tới?

Trả lời các câu hỏi này, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cho biết, vấn đề xử lý nợ xấu được Đảng, Chính phủ, Quốc hội rất quan tâm. Đặc biệt với việc Quốc hội ban hành Nghị quyết 42, công tác xử lý nợ xấu trong gần 3 năm qua khá hiệu quả những vướng mắc, khó khăn đã cơ bản được khắc phục.

Về số liệu cụ thể, luỹ kế từ 15/8/2017 (thời điểm Nghị quyết 42 có hiệu lực) đến ngày 30/9/2020, đã có hơn 312,3 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42. Trong đó, xử lý nợ xấu nội bảng là 167,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 53,8% tổng nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42 và xử lý các khoản nợ đang hạch toán ngoài bảng cân đối kế toán là 74,9 nghìn tỷ đồng. Với các khoản nợ xấu đã bán cho Công ty Quản lý tài sản (VAMC) thanh toán bằng trái phiếu đặc biệt, đã xử lý được 69,5 nghìn tỷ đồng.

Trong 9 tháng đầu năm 2020, đại dịch COVID-19 trên thế giới diễn biến phức tạp, tác động nghiêm trọng mọi mặt đời sống kinh tế. Hoạt động ngân hàng là trung gian tài chính, người gửi tiền là doanh nghiệp và người dân; người vay tiền cũng là doanh nghiệp và người dân nên khi doanh nghiệp và người dân gặp khó khăn, nhất là khi nguồn thu bị sụt giảm thì khả năng trả nợ cũng khó khăn. Đây là một nguyên nhân dẫn đến nợ xấu tăng.

Bên cạnh đó còn nguyên nhân khác về kỹ thuật. Trong bối cảnh tác động của COVID-19, tình hình kinh tế khó khăn, cầu tín dụng không cao dẫn đến tăng trưởng tín dụng không cao như những năm trước, do đó khi tính nợ xấu/dư nợ thì tỷ lệ nợ xấu cũng tăng lên.

Trong thời gian qua, NHNN đã chủ động triển khai nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Cụ thể, NHNN đã ban hành Thông tư 01, chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân.

Tình hình dịch COVID-19 vẫn diễn biến phức tạp trên thế giới và chưa thể biết thời điểm nào mới kết thúc. Nếu trong thời gian tới, dịch tiếp tục phức tạp, gây khó khăn cho doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp tham gia các hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế, thì nhiều khả năng làm nợ xấu hệ thống ngân hàng tăng lên.

Về phía NHNN đã giao các vụ, cục chức năng có những đánh giá, dự báo, phân tích và đưa ra các biện pháp để có thể ứng phó tình hình, quản lý hoạt động của các tổ chức tín dụng cũng như đảm bảo an toàn hoạt động của toàn hệ thống.

Đỗ Lê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.020 23.230 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.050 23.230 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 22.998 23.228 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.060 23.235 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.040 23.230 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.040 23.220 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.038 23.253 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.027 23.227 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.060 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.080 23.230 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
53.100
53.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
53.100
53.700
Vàng SJC 5c
53.100
53.720
Vàng nhẫn 9999
52.400
53.100
Vàng nữ trang 9999
52.100
52.900