Khi nào thì Fed tăng lãi suất?

10:02 | 01/03/2021

Nỗi lo về lạm phát ngày càng gia tăng, cộng với sự lạc quan về sự phục hồi kinh tế và một số yếu tố kỹ thuật khác có thể đẩy lãi suất tăng nhanh hơn. Hiện thị trường đang đặt câu hỏi: Liệu Fed có thể giữ lãi suất ở sát mức 0% bao lâu nữa khi mà kinh tế Mỹ có thể phục hồi nhanh trở lại?

khi nao thi fed tang lai suat Fed cam kết tiếp tục hỗ trợ nền kinh tế phục hồi

Lợi suất trái phiếu tăng mạnh

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm đã tăng hơn 30 điểm cơ bản trong 10 phiên vừa qua. Lợi suất trái phiếu tăng nhờ những thông tin tích cực về việc triển khai vắc-xin ngừa Covid-19, trong khi tỷ lệ lây nhiễm giảm. Trong khi Hạ viện Mỹ cũng đang tiến hành thông qua dự luật cứu trợ Covid mới trị giá 1,9 nghìn tỷ USD. Việc kích thích tài khóa mạnh mẽ hơn có thể khiến kinh tế Mỹ phục hồi nhanh chóng.

Jim Caron - Trưởng bộ phận chiến lược lãi suất vĩ mô toàn cầu của Morgan Stanley Investment Management cho biết, tốc độ gia tăng của lợi suất đã khiến thị trường bất ngờ vì quan điểm đồng thuận là lợi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm sẽ đạt 1,5% vào cuối năm.

khi nao thi fed tang lai suat
Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm tăng mạnh kể từ đầu năm

Lợi tức trái phiếu kho bạc tăng phản ánh dự báo kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng 6% trong năm nay và mạnh mẽ hơn vào năm 2022. Theo khảo sát của CNBC/Moody’s Analytics, các nhà kinh tế kỳ vọng nền kinh tế lớn nhất thế giới sẽ tăng trưởng trung bình 6% trong năm nay.

Tuy nhiên lợi suất trái phiếu tăng đã tác động tiêu cực đến thị trường chứng khoán. Mặc dù vậy, theo Jim Caron, việc lợi suất trái phiếu kho bạc 10 năm tăng mạnh chỉ có tác động nhẹ đến cổ phiếu và hầu như không có tác động đến tín dụng. Ngoài ra, đồng đôla Mỹ cũng không mạnh lên theo lợi suất. “Tất cả đều là những yếu tố cấu thành nên điều kiện tài chính vẫn dễ dàng, không thắt chặt, mặc dù lợi suất trái phiếu kho bạc tăng”, Caron cho biết. “Có lẽ sau đó có thể kết luận rằng lợi suất trái phiếu 10 năm tăng phản ánh sự nâng cấp gần đây về kỳ vọng tăng trưởng kinh tế cơ bản và không có gì đáng lo”, Caron nói thêm.

Đó có thể là lý do mà cho đến nay, Fed vẫn chưa phản ứng gì trước diễn biến này. Thậm chí theo Michael Schumacher - Giám đốc lãi suất của Wells Fargo, trong phát biểu điều trần trước Quốc hội Mỹ vào tuần trước, Chủ tịch Fed Jerome Powell còn “bật đèn xanh cho lợi suất tăng. Ông ấy nói rằng lợi suất tăng là kết quả của sức mạnh trong nền kinh tế”. Tuy nhiên theo vị chuyên gia này, “Fed sẽ phải ra mặt và nói điều gì đó”.

Khi nào Fed tăng lãi suất?

Hiện thị trường cũng đang đặt câu hỏi bao giờ thì Fed tăng lãi suất? Trên thực tế lãi suất dài hạn, nghĩa là lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm và 30 năm, đã tăng lên.

“Tôi nghĩ toàn bộ thị trường này đang cố gắng tìm hiểu xem nền kinh tế đang thực sự đi đến đâu và Fed thực sự sẽ làm gì”, Ralph Axel - Chiến lược gia lãi suất của Bank of America cho biết. “Fed dự kiến sẽ không tăng “lãi suất” cho đến tháng 3/2023. Đó là hai năm tốt đẹp”, Axel cho biết và lý giải: Fed vẫn được dự kiến sẽ gỡ bỏ chính sách rất chậm và sẽ thu hẹp chương trình mua trái phiếu của mình trước khi tăng lãi suất.

Bank of America cũng dự kiến các quan chức Fed sẽ thảo luận về việc thu hẹp chương trình mua trái phiếu với quy mô 120 tỷ USD/tháng vào cuối năm nay và sẽ bắt đầu giảm bớt lượng mua vào năm sau. Theo Axel, có hai vấn đề trọng tâm đối với Fed là kế hoạch thu hẹp QE và chu kỳ tăng lãi suất, những yếu tố có tác động rất lớn đến triển vọng tăng trưởng của kinh tế Mỹ.

Hiện thị trường tương lai quỹ Fed đang định giá đợt tăng lãi suất đầu tiên sẽ diễn ra trong quý đầu tiên của năm 2023 hoặc tháng 3. Trong khi Axel cho rằng, động thái này sẽ diễn ra trong quý II/2023, cụ thể là vào tháng 5. Vị chuyên gia này cũng hy vọng thị trường sẽ bắt đầu thảo luận về việc tăng lãi suất vào cuối năm nay khi dữ liệu kinh tế được cải thiện.

Thị trường trái phiếu rất nhạy cảm với thực tế là một nền kinh tế đang mạnh lên cũng có thể thúc đẩy lạm phát tăng. Khi lợi suất tăng cao, kỳ vọng lạm phát của thị trường trái phiếu cũng tăng lên và một chỉ số thị trường đang định giá lạm phát trung bình ở mức 2,32% trong 5 năm tới. Hiện lạm phát đang khiến thị trường lo lắng và lợi suất đã tăng trên toàn thế giới, khi giá hàng hóa tăng. Trên thực tế giá dầu đã tăng khoảng 18% trong tháng qua và giá đồng tăng 17%.

Chủ tịch Fed Jerome Powell, trong phát biểu điều trần trước Quốc hội Mỹ, cũng coi lạm phát là một vấn đề và cho biết Fed dự kiến sẽ chứng kiến những con số lớn hơn vào mùa xuân này do tác động của việc giá giảm mạnh vào tháng 3 và tháng 4 năm ngoái khi nền kinh tế đóng cửa. Nhưng ông cho rằng lạm phát đang tăng nóng, ngay cả khi kinh tế tăng trưởng mạnh. Theo ông có thể mất ba năm trước khi lạm phát đạt được mục tiêu của Fed.

“Lạm phát sẽ cao trong ngắn hạn vì hiệu ứng nền tảng; nhưng khi vượt qua điều đó, nó có thể vào khoảng 2%, mặc dù cao hơn so với trước đây, nhưng không quá cao”, Schumacher nói.

Mai Ngọc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.950 23.160 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.970 23.170 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.919 23.169 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.150 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.956 23.178 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.963 23.163 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.100
55.500
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.100
55.480
Vàng SJC 5c
55.100
55.500
Vàng nhẫn 9999
51.700
52.300
Vàng nữ trang 9999
51.300
52.000