Fed cam kết tiếp tục hỗ trợ nền kinh tế phục hồi

10:08 | 26/02/2021

Chưa quan ngại lạm phát trong khi tỷ lệ thất nghiệp còn cao, nên chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cần tiếp tục tập trung vào hỗ trợ nền kinh tế phục hồi.

fed cam ket tiep tuc ho tro nen kinh te phuc hoi Fed: Kinh tế Mỹ còn 'xa' với kỳ vọng, hàm ý chính sách nới lỏng sẽ không sớm thay đổi
fed cam ket tiep tuc ho tro nen kinh te phuc hoi Fed giữ nguyên lãi suất và việc mua tài sản
fed cam ket tiep tuc ho tro nen kinh te phuc hoi Fed sẽ cần trấn an thị trường rằng họ không định rút bớt hỗ trợ

Mặt bằng giá tăng nhưng chưa đáng quan ngại

Trong ngày điều trần thứ hai trước Ủy ban Dịch vụ tài chính Hạ viện hôm thứ Tư, Chủ tịch Jerome Powell nhấn mạnh quan điểm của Fed là kinh tế Mỹ vẫn còn một chặng đường dài phía trước để phục hồi và các dấu hiệu tăng giá hiện nay “không nhất thiết” dẫn đến tình trạng lạm phát cao liên tục. “Chính sách hiện tại của Fed là phù hợp vì tỷ lệ thất nghiệp vẫn cao và thị trường việc làm vẫn còn xa mới đạt tới mức toàn dụng”, ông nói.

Tuy thừa nhận một số giá tài sản đã tăng lên nhưng chủ yếu là do các yếu tố nhất thời, ông Powell lấy ví dụ về việc giá xe hơi tăng gần đây chủ yếu là do thiếu chip và những hạn chế trong chuỗi cung ứng của ngành công nghệ.

fed cam ket tiep tuc ho tro nen kinh te phuc hoi
Fed cam kết tiếp tục duy trì chính sách nới lỏng để hỗ trợ nền kinh tế

Trước nhiều chất vấn từ các nhà lập pháp về nguy cơ nền kinh tế quá nóng - với gói viện trợ bổ sung của Chính phủ vừa thông qua mới đây và sự hỗ trợ tiếp tục từ NHTW - Chủ tịch Fed đã nhắc lại quan điểm của mình rằng vẫn còn một chặng đường dài trước khi nền kinh tế có thể trở lại mức trước đại dịch. Nói cách khác, nền kinh tế tiếp tục cần được trợ giúp, trong đó về phía chính sách tiền tệ, lãi suất cần được giữ ở mức thấp “trong một thời gian dài nữa”. Phiên giao dịch ngày 24/2/2021, chứng khoán Mỹ đang từ trạng thái giảm đã đảo chiều tăng khá mạnh sau những quan điểm trên của ông Powell. Lợi tức trái phiếu Chính phủ cùng giá dầu cũng tăng lên.

Những quan điểm mà ông Powell đưa ra trong phiên điều trần vừa qua thực tế cũng đã được một số quan chức Fed đưa ra trước đó. Vào thứ Tư vừa qua, Phó Chủ tịch Fed Richard Clarida dù bày tỏ sự lạc quan nhất định về triển vọng nhưng cũng cho rằng, sẽ “mất một thời gian nữa” để nền kinh tế có thể khôi phục về mức trước đại dịch. Bà Lael Brainard, một quan chức khác của Fed thì cảnh báo lạm phát vẫn ở mức “rất thấp” và nền kinh tế vẫn còn cách xa các mục tiêu đặt ra của Fed.

Tiếp tục hỗ trợ kinh tế phục hồi

Thực tế gần đây, sự lạc quan đang tăng lên cùng với việc gia tăng phân phối vắc xin phòng Covid-19. Các thị trường cũng đang mong đợi gói kích thích tài khóa thêm nữa. Chứng khoán giữ xu hướng tăng và lợi suất trái phiếu kho bạc cũng có dấu hiệu tăng lên từ các mức thấp kỷ lục và đó là những dấu hiệu cho thấy nền kinh tế đang tăng cường phục hồi mạnh hơn. Những yếu tố này có thể thúc đẩy giá hàng hóa và kỳ vọng lạm phát tăng lên.

Chủ tịch Powell cho biết, Fed dự kiến lạm phát sẽ tăng do "các tác động cơ bản" và nhu cầu tăng vọt khi nền kinh tế mở cửa trở lại sau giai đoạn đóng cửa vì Covid-19 bùng phát. Nhưng ông cũng nhấn mạnh rằng, Fed có các công cụ để đối phó với vấn đề này và thậm chí lạm phát tăng đang là điều mà Fed mong mỏi, ít nhất là trong ngắn hạn. Trong phiên điều trần vừa qua, ông Powell tin tưởng rằng Fed sẽ thành công trong việc nâng lạm phát lên trong giai đoạn trước mắt và theo thời gian sẽ dần đưa lạm phát về mức trung bình 2% như mục tiêu đặt ra.

“Tôi tự tin rằng chúng tôi có thể và chúng tôi sẽ làm được và chúng tôi cam kết sử dụng các công cụ của mình để đạt được điều đó”, Chủ tịch Fed nói. “Chúng ta đang sống trong thời kỳ có áp lực lạm phát giảm đáng kể trên toàn thế giới và về cơ bản, tất cả các NHTW của nền kinh tế tiên tiến lớn đều phải vật lộn để đạt được mức lạm phát 2%. Chúng tôi tin rằng chúng tôi có thể làm được và tin rằng chúng tôi sẽ làm được”, ông nhắc lại. Theo ông Powell, có thể phải mất hơn ba năm" để đạt được mục tiêu đã đề ra nhưng cam kết sẽ cập nhật đánh giá của Fed về vấn đề này mỗi quý.

Các nhà lập pháp cũng chất vấn Chủ tịch Fed về quan điểm đối với tiền kỹ thuật số. Ông Powell cho biết đây sẽ là một năm quan trọng về vấn đề này. “Đây sẽ là năm mà chúng tôi đẩy mạnh tương tác chủ động với công chúng - bao gồm một số sự kiện mà chúng tôi đang thực hiện”. Ông cũng cho biết Fed sẽ làm việc tích cực với Quốc hội về tiền kỹ thuật số trong năm nay.

Tại phiên điều trần, Chủ tịch Fed cũng nhiều lần được hỏi về tác động của những diễn biến căng thẳng của đại dịch tới các cộng đồng dân cư nghèo hơn, như có bằng chứng cho thấy việc người dân xếp hàng dài tại các cửa hàng thực phẩm là vì đại dịch. Trả lời vấn đề này, ông Powell cho rằng đó chính là một dấu hiệu nữa cho thấy về sự cần thiết phải tiếp tục các hỗ trợ để đưa nền kinh tế phục hồi càng sớm càng tốt.

Hồng Quân

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.950 23.160 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.970 23.170 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.919 23.169 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.150 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.956 23.178 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.963 23.163 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.100
55.500
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.100
55.480
Vàng SJC 5c
55.100
55.500
Vàng nhẫn 9999
51.700
52.300
Vàng nữ trang 9999
51.300
52.000