Kiên định mục tiêu tăng trưởng

09:05 | 02/07/2021

Tại phiên họp thường kỳ tháng 6 (ngày 1/7), Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, tới thời điểm này chúng ta vẫn chưa thay đổi mục tiêu đã đề ra, nhưng phải chủ động, linh hoạt, sáng tạo, hài hòa giữa phòng chống dịch bệnh và phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH).

kien dinh muc tieu tang truong Chính phủ ban hành Nghị quyết về thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải ngân vốn đầu tư công và xuất khẩu bền vững
kien dinh muc tieu tang truong Thực hiện quyết liệt các giải pháp để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng
kien dinh muc tieu tang truong Vaccine không là “cây đũa thần” cho tăng trưởng

Kinh tế tiếp tục chuyển biến tích cực

Chính phủ thống nhất nhận định, trong 6 tháng qua, việc triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH trong bối cảnh cơ hội, thuận lợi cũng lớn; nhưng khó khăn, thử thách nhiều hơn trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, đặc biệt là từ cuối tháng 4, ảnh hưởng nghiêm trọng tới hầu hết các lĩnh vực. Mặc dù vậy, tình hình KT-XH 6 tháng đầu năm tiếp tục chuyển biến tích cực. Tốc độ tăng GDP 6 tháng đạt 5,64%, cao hơn nhiều so với cùng kỳ năm 2020 (1,82%). Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát ở mức thấp, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm.

Tuy nhiên, các thành viên Chính phủ cũng cho rằng, tình hình kinh tế thế giới dự báo tiếp tục xu hướng phục hồi, nhưng còn nhiều rủi ro, thách thức; dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, đe dọa làm đứt gãy các dòng đầu tư, thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu. Ở trong nước, sản xuất kinh doanh tiếp tục gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là khu vực dịch vụ và tại các địa bàn có dịch bùng phát; giải ngân vốn đầu tư công còn chậm (hết 6 tháng mới đạt khoảng 29%); số doanh nghiệp rút khỏi thị trường ở mức cao; giá nguyên, nhiên vật liệu vẫn trong xu hướng tăng cao; đời sống một bộ phận người lao động, người dân gặp khó khăn do ảnh hưởng bởi dịch bệnh…

kien dinh muc tieu tang truong
Làn sóng dịch Covid-19 lần thứ tư đã gây nhiều khó khăn cho sản xuất công nghiệp

Trên cơ sở đánh giá sát và phân tích kỹ tình hình, Chính phủ khẳng định, nhất quán quan điểm là phải kiên định mục tiêu, tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; kiểm soát lạm phát; bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; thực hiện hài hòa, thành công “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch Covid-19, vừa thúc đẩy phát triển KT-XH.

Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương bám sát các Nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ, nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân, quyết liệt hành động, không để công việc trì trệ; đổi mới tư duy, phương thức chỉ đạo, điều hành theo hướng bám sát thực tiễn, nhận diện đúng tình hình để đưa ra quyết sách kịp thời, chính xác, đạt hiệu quả cao nhất.

Trong đó, cần tập trung cao độ, dành mọi nguồn lực cho công tác phòng, chống dịch Covid-19 trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa ưu tiên phòng, chống dịch và phát triển KT-XH. Xây dựng và triển khai chiến lược vaccine theo hướng mua vaccine nhanh nhất, nhiều nhất có thể trên tinh thần tuyệt đối không để xảy ra tiêu cực, lãng phí; đồng thời thúc đẩy sản xuất vaccine trong nước nhanh nhất, sớm nhất và triển khai chiến dịch tiêm chủng vaccine, bảo đảm an toàn, hiệu quả, sớm đạt được miễn dịch cộng đồng.

Chính phủ cũng yêu cầu theo dõi sát tình hình, phân tích, dự báo và cập nhật các kịch bản tăng trưởng. Điều hành linh hoạt, hiệu quả các chính sách tiền tệ, tài khóa để giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.

Hai kịch bản tăng trưởng

Việc tốc độ tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm thấp hơn 0,58 điểm phần trăm so với kịch bản tại Nghị quyết 01/NQ-CP (6,22%) đã tạo áp lực lớn cho 6 tháng cuối năm 2021. Trong khi những khó khăn, thách thức từ cả bên ngoài lẫn nội tại nền kinh tế còn nhiều, nhất là khi tình hình dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, đe dọa trực tiếp tới sản xuất công nghiệp ở các tỉnh khu vực Đông Nam bộ, Đồng bằng sông Hồng và tăng trưởng của lĩnh vực dịch vụ, trước mắt là trong quý III. Vì vậy, việc đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm 2021 là rất thách thức.

Tuy nhiên, với các yếu tố tích cực và kết quả đã đạt được của 6 tháng đầu năm kể trên, Bộ Kế hoạch và Đầu tư kiến nghị vẫn giữ nguyên các mục tiêu tăng trưởng đã đề ra (mục tiêu của Quốc hội đặt ra là 6%; Chính phủ là 6,5%) và phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng ở mức cao nhất. Bộ cũng đề xuất 2 kịch bản tăng trưởng. Kịch bản 1: Để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế 6%, quý III cần đạt mức tăng trưởng là 6,2%, quý IV tăng 6,5%. Kịch bản 2: Để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế 6,5%, quý III phải đạt mức tăng trưởng là 7% và quý IV tăng 7,5%.

Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh, tới thời điểm này, chúng ta vẫn chưa thay đổi mục tiêu đã đề ra, nhưng phải chủ động, linh hoạt, sáng tạo, hài hòa giữa phòng chống dịch bệnh và phát triển KT-XH. Theo đó tùy diễn biến tình hình thực tế, có nơi, có lúc phải ưu tiên cho nhiệm vụ phòng chống dịch; hoặc ưu tiên cho nhiệm vụ phát triển KT-XH; hoặc phải cân bằng cả hai mục tiêu, nhiệm vụ này.

Ví dụ, các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang thời gian vừa qua đã ưu tiên cho nhiệm vụ ngăn chặn, đẩy lùi dịch bệnh và đến nay cơ bản kiểm soát được tình hình nên hiện nay đang chuyển sang ưu tiên cho nhiệm vụ thúc đẩy sản xuất, kinh doanh. Một số địa phương như Hà Nội cần kết hợp hài hòa, hợp lý, hiệu quả giữa hai nhiệm vụ, mục tiêu. Trong khi đó trước tình hình dịch bệnh đang phức tạp hiện nay, TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam bộ đang phải tập trung ưu tiên cho nhiệm vụ phòng chống dịch. Một điểm quan trọng nữa mà các tỉnh cần lưu ý là khi mở lại hoạt động các KCN phải đảm bảo an toàn, kiên quyết không để dịch tái bùng phát trở lại.

Chiều muộn ngày 1/7, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị quyết 68 về việc hỗ trợ người lao động, người sử dụng lao động bị ảnh hưởng do dịch Covid-19 với tổng mức hỗ trợ khoảng 26.000 tỷ đồng. Thông tin về gói hỗ trợ mới này tại buổi họp báo Chính phủ tháng 6, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và xã hội Đào Ngọc Dung cho biết có 12 nội dung và nhóm đối tượng được hưởng các chính sách hỗ trợ theo Nghị quyết này. Các nguyên tắc cơ bản của hỗ trợ lần này là: Hỗ trợ kịp thời, đúng đối tượng, công khai minh bạch; Thiết kế chính sách minh bạch, đơn giản, dễ tiếp cận nhất; Đảm bảo chính sách có tính khả thi; Mỗi đối tượng chỉ thụ hưởng một chính sách (trừ trường hợp đặc biệt là phụ nữ mang thai, người đang nuôi dưỡng trẻ em và trẻ em bị mắc Covid-19 hoặc phải cách ly). Theo đó, người lao động bị ảnh hưởng Covid-19 sẽ được nhận từ 1,5 triệu đồng/người đến 3,71 triệu đồng/người; các lao động tự do được hỗ trợ ít nhất là 1,5 triệu đồng/người…

(Thực hiện Nghị quyết 84/NQ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ)

Đỗ Lê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.640 22.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.665 22.865 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.645 22.865 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.880 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.655 22.865 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.400
57.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.400
57.050
Vàng SJC 5c
56.400
57.070
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800