Lạm phát tại Mỹ vượt dự báo: Không chỉ là tạm thời

11:42 | 12/06/2021

Mặt bằng giá tiêu dùng tại Mỹ đã tăng vượt dự báo trong tháng Năm, nối dài chuỗi lạm phát cao trong những tháng gần đây và có nguy cơ gia tăng khi nền kinh tế phục hồi trở lại. Câu hỏi đặt ra là liệu đây có phải diễn biến tạm thời?

lam phat tai my vuot du bao khong chi la tam thoi

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Năm tại Mỹ đã tăng 0,6% so với tháng trước, mức tăng cao thứ hai trong vòng một thập kỷ trở lại đây và vượt dự báo tăng 0,4% của các nhà kinh tế.

So với cùng kỳ năm trước, chỉ số này tăng 5%. Mặc dù có yếu tố kỹ thuật, do lạm phát cùng kỳ năm trước thấp, nhưng đây vẫn là mức tăng “sốc” khi đạt cao nhất kể từ tháng 8/2008, theo dữ liệu của Bộ Lao động Mỹ.

Đóng góp vào mức tăng trên chủ yếu là từ việc giá tăng cao ở các mặt hàng liên quan đến sự mở cửa trở lại của nền kinh tế Mỹ. Báo cáo CPI cho thấy giá cả tăng đều đặn tại những mặt hàng như phương tiện giao thông cũ, đồ nội thất, vé máy bay và các mặt hàng thời trang.

Mức tăng trưởng của giá ô tô và xe tải cũ đóng góp khoảng một phần ba vào mức tăng CPI trong tháng Năm, theo Bộ Lao động Mỹ.

Mặc dù giá cả tăng cao ở những ngành hàng nói trên đã củng cố quan điểm của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) rằng “áp lực lạm phát là tạm thời”, nhưng theo Sarah House và Shannon Seery, hai nhà phân tích của Wells Fargo & Co, vẫn có thể thấy rõ “áp lực lạm phát đang gia tăng”.

“Chúng tôi nghĩ giá cả sẽ khó mà quay trở lại như thời điểm trước đại dịch”, hai nhà phân tích nói trên nhận định.

Áp lực giá tiếp tục bao trùm lên cả nền kinh tế khi các công ty cạnh tranh nhau để đáp ứng nhu cầu thị trường đang cải thiện giữa bối cảnh nguyên liệu đầu vào và nhân công khan hiếm. Khó khăn trong giao nhận, giá nguyên vật liệu tăng cao cùng với lương tăng là những thách thức mà các công ty đang phải đối diện.

Nếu loại trừ biến động giá của hai nhóm ngành thực phẩm và năng lượng, CPI lõi trong tháng Năm vẫn tăng vượt dự báo, ở mức 0,7% so với tháng trước và tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước - mức cao nhất kể từ năm 1992.

Để thấy rõ hơn sự tăng trưởng vượt bậc của lạm phát, CPI lõi giai đoạn tháng 3-5 đã tăng 5,2% so với cùng kỳ - mức cao nhất kể từ năm 1991.

Diễn biến lạm phát so với cùng kỳ tại Mỹ trong vòng 12 tháng qua

lam phat tai my vuot du bao khong chi la tam thoi

Chi tiêu cao hơn cho hàng hoá - một phần được thúc đẩy bởi gói kích thích của chính phủ Mỹ - đã làm tăng số lượng đơn đặt hàng và thúc đẩy doanh nghiệp sản xuất nhiều hàng tồn kho hơn.Và giờ đây, khi những biện pháp hạn chế để chống dịch dần được dỡ bỏ, nhu cầu chuyển sang các dịch vụ - yếu tố tiếp theo sẽ thúc đẩy lạm phát.

“Báo cáo CPI tháng Năm chỉ ra rằng những ngành hàng liên quan đến việc mở cửa trở lại nền kinh tế đang đóng góp nhiều nhất vào áp lực lạm phát trong hai tháng liên tiếp”, nhà kinh tế học Andrew Husby và Yelena Shulyatyeva của Bloomberg cho hay.

Câu hỏi mà các nhà kinh tế và nhà đầu tư đang vật lộn để tìm lời giải là liệu “áp lực lạm phát chỉ là nhất thời” như Fed nói, hay chúng là dài hạn khi các chính sách hỗ trợ tài chính và tiền tệ tiếp tục được mở rộng.

Cập nhật mới nhất, sau một đợt tăng nhẹ, lãi suất trái phiếu kho bạc Mỹ 10 năm gần đây đã giảm xuống dưới mức 1,5%. Đồng USD không bị ảnh hưởng nhiều và chỉ số S&P 500 đạt đỉnh mới. Số đơn yêu cầu trợ cấp thất nghiệp giảm trong tuần thứ sáu liên tiếp.

Một vài công ty đã hoặc đang có kế hoạch tăng giá sản phẩm, trong đó có Chipotle Mexican Grill và Reynolds Consumer Products.

Bất chấp số đơn đặt hàng mới và đơn chưa giao tại công ty nội thất Hooker Furniture đang tăng lên từng ngày, “chúng tôi lạc quan một cách thận trọng trong bối cảnh toàn ngành đối diện với khủng hoảng về chuỗi cung ứng, thiếu nguyên vật liệu và lạm phát gia tăng”, giám đốc điều hành Jeremy Hoff nói trong một cuộc họp vào ngày 4/6. “Chúng tôi tin rằng đã triệt tiêu tối đa những rủi ro này bằng cách tăng giá và phụ phí”,

Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Jerome Powell nhiều lần nhấn mạnh rằng áp lực tăng giá nhiều khả năng sẽ chỉ là tạm thời. Ông cũng phát biểu vào tháng Tư: “Trường hợp hàng hoá tăng giá một lần khi nền kinh tế mở cửa trở lại không đồng nghĩa và cũng không nhiều khả năng dẫn tới mức lạm phát tăng dần theo năm”.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia khác không đồng quan điểm, họ lưu ý tới hàng nghìn tỷ USD đổ vào nền kinh tế qua các gói cứu trợ tài chính, sự khan hiếm kéo dài của hàng hoá và chi phí nhân công tăng.

“CPI sẽ tiếp tục tăng cao trong thời gian tới, nhưng sự gia tăng trưởng tự nhiên của lạm phát và nhu cầu tiêu dùng do bị nén trong thời gian dài không cho chúng ta một câu trả lời chính xác cho câu hỏi về bản chất của lạm phát hiện tại, và thị trường trái phiếu vẫn thức sự là khó đoán”, AnuGaggar, nhà phân tích cấp cao về đầu tư toàn cầu tại Commonwealth Financial Network, nói.

Bất chấp thu nhập của người lao động tăng vọt so với dự đoán của các nhà kinh tế trong hai tháng gần đây, giá tiêu dùng tăng vẫn gây ra những ảnh hưởng không nhỏ. Lương theo giờ nếu tính theo lạm phát vẫn giảm 0,2% trong tháng Năm, sau khi giảm 0,1% vào tháng trước, số liệu cho thấy. Sự suy giảm của thu nhập như trên nếu kéo dài có thể thúc ép người lao động yêu cầu tăng thêm lương.

Chi phí nhà ở, chiếm 1/3 tổng giá trị rổ hàng hóa và dịch vụ tính CPI, tăng 0,3% trong tháng Năm, sau khi đã tăng 0,4% vào tháng trước. Trong đó, chi phí thuế khách sạn tăng 0,4% và giá thuê nhà tăng 0,3%.

“Mặc dù các yếu tố chuyển tiếp đóng vai trò quan trọng trong mức tăng của CPI tháng Năm, nhưng những yếu tố dài hạn khác như là tiền thuê nhà cũng tăng cao hơn dự báo, cho thấy sự gia tăng của lạm phát có gốc rễ bền vững hơn một khi các yếu tố chuyển tiếp dần biến mất”, các chuyên gia tại Morgan Stanley lưu ý.

Minh Phong Phạm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.810 23.040 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.840 23.040 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.820 23.040 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.840 23.020 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.840 23.020 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.835 23.050 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.820 23.035 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.840 23.020 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.870 23.020 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.650
57.370
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.650
57.350
Vàng SJC 5c
56.650
57.370
Vàng nhẫn 9999
51.000
51.700
Vàng nữ trang 9999
50.700
51.400