Muốn hộ nghèo giàu lên nên tránh phụ thuộc vào các chính sách “thẩm thấu”

17:41 | 08/11/2017

Cách tiếp cận tín dụng chính thức là một công cụ quan trọng giúp xoá đói, giảm nghèo.

Người nghèo lo giá lại tăng
Thắp lửa trên mặt trận giảm nghèo
Tín dụng chính sách: Lối mở để thoát nghèo

Theo báo cáo “Đặc điểm kinh tế nông thông Việt Nam: Kết quả điều tra hộ gia đình nông thôn Việt Nam năm 2016” (VARHS), tăng trưởng kinh tế trong thập kỷ vừa qua đã góp phần cải thiện đáng kể phúc lợi cho người dân Việt Nam, nhiều hộ gia đình khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa đã thoát khỏi tình trạng nghèo đói. Nhưng “thành quả kinh tế của Việt Nam không được phân phối đồng đều giữa các hộ gia đình nông thôn”.

Các hộ gia đình nghèo ở các tỉnh Lào Cai, Điện Biên, Lai Châu… đang xa dần các hộ giàu và khá

Báo cáo do Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), Viện Khoa học Lao động và Xã hội (ILSSA) và Viện Nghiên cứu Kinh tế phát triển Thế giới thuộc Trường Đại học Liên hợp quốc (UNUWINER) thực hiện đã tiến hành điều tra hộ gia đình nông thôn Việt Nam năm 2016 tại 12 tỉnh là cuộc điều tra lặp lại hiếm có, cho phép nghiên cứu các vấn đề về một số vùng và một số nhóm bị bỏ lại phía sau; hộ gia đình đang được hưởng lợi đồng đều từ sự phát triển kinh tế và một số vùng cần thêm nguồn lực hoặc đổi mới chính sách.

VARSH cũng chỉ rõ có sự chênh lệch lớn về phúc lợi và việc tiếp cận các nguồn lực giữa các nhóm dân tộc vẫn tiếp tục tồn tại trong khi khoảng cách về các kết quả phúc lợi giữa người nghèo nhất và người giàu nhất vẫn còn rất lớn. Các hộ thiểu số có thu nhập thấp hơn, hoạt động kinh doanh kém phát triển hơn, mức tiết kiệm cũng thấp hơn, trong khi thường xuyên phải đối mặt với các cú sốc và rất khó khăn trong việc ứng phó…

Một vấn đề cũng được báo cáo đề cập là các hộ kinh doanh phi nông nghiệp. Về số lượng, so với báo cáo năm 2014, số lượng các hộ kinh doanh trong năm 2016 không thay đổi. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ kinh doanh có giấy đăng ký kinh doanh đã tăng từ 23,7% lên tới 29,5% và sản xuất tại hộ gia đình đã giảm từ 58,9% xuống còn 56,2% vào năm 2016. Điều đó cho thấy nhiều hộ gia đình đã có cơ sở sản xuất riêng. Tuy vậy, xét về quy mô, đa phần các hộ kinh doanh gia đình vẫn mang tính nhỏ lẻ và thường chỉ sử dụng lao động trong phạm vi gia đình thay vì thuê ngoài.

Báo cáo cho thấy cách tiếp cận tín dụng chính thức là một công cụ quan trọng giúp xoá đói, giảm nghèo. Tỷ lệ hộ thiểu số tiếp cận tín dụng tăng lên. Về tiếp cận tín dụng, theo khảo sát, có khoảng trên 28% hộ gia đình có ít nhất một khoản vay, trong khi có tới hơn 71% hộ không có khoản vay nào. Trong số 768 hộ gia đình có ít nhất 1 khoản vay, có 145 hộ có khoản vay thứ 2 và 34 hộ có khoản vay thứ 3. Ngoài ra, vẫn có sự chênh lệch giữa các vùng trong việc tiếp cận tín dụng, tỷ lệ hộ có các khoản vay mà có chủ hộ không biết đọc, biết viết tăng lên. 

Khi tiếp cận tín dụng, nhất là với các khoản tín dụng chính thức, thường có một yêu cầu chung về tài sản thế chấp và/hoặc có người bảo lãnh. 44% số hộ có khoản vay cần phải có tài sản thế chấp trong khi có hơn 61% hộ cần có người bảo lãnh cho các khoản vay của mình. Điều đó hàm ý là người đi vay phải thuộc về hoặc được giới thiệu bởi một tổ chức có uy tín nào nào đó. 

Đáng lưu ý là, nhóm hộ nghèo nhất có sự gia tăng về tiếp cận tín dụng trong khi các hộ thuộc nhóm giàu thứ 2 lại giảm. Nhưng, là một người tham gia điều tra làm báo cáo,  ông Thomas Markussen, Trường Đại học Copenhagen cho biết “các hộ nghèo nhất và dễ bị tổn thương nhất thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận với tín dụng”. 

Theo Giáo sư S. Finn Tarp, Giám đốc UNUWIDER, để đảm bảo những thành tựu về kinh tế của Việt Nam được phân bổ đồng đều, thì các nhà hoạch định chính sách cần chú trọng hơn nữa vào việc thu hẹp các khoảng cách này trong những năm tới. “Giải quyết những bất bình đẳng này và đảm bảo rằng nhóm hộ nghèo và dễ bị tổn thương nhất không bị bỏ lại phía sau tiếp tục là những vấn đề trọng tâm. 

Các nhà làm chính sách cần tránh phụ thuộc vào các chính sách “thẩm thấu” mà thay vào đó cần đặt trọng tâm vào các can thiệp với mục tiêu rõ ràng hướng đến tăng cường phúc lợi của các nhóm nghèo nhất và dễ bị tổn thương nhất”, Giáo sư S. Finn Tarp nhấn mạnh.

Đỗ Lê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24.320 24.630 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 24.350 24.630 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 24.320 24.640 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 24.380 24.680 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 24.340 24.620 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 24.350 24.800 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 24.372 24.637 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 24.327 24.635 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 24.380 24.800 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.410 24.670 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.350
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.350
67.150
Vàng SJC 5c
66.350
67.170
Vàng nhẫn 9999
53.300
54.300
Vàng nữ trang 9999
53.100
53.900