Ngân hàng trung ương Anh giữ nguyên chính sách tiền tệ siêu nới lỏng

08:56 | 28/06/2021

Cuộc họp chính sách tháng 6 của NHTW Anh (BOE) đã kết thúc hôm 24/6 với quyết định giữ nguyên chính sách tiền tệ siêu nới lỏng của mình. Tuy nhiên BOE tuyên bố sẽ theo dõi sát diễn biến lạm phát đang có xu hướng gia tăng khi nền kinh tế Vương quốc Anh bật dậy sau cú sốc do đại dịch Covid gây ra.

Tiếp tục nới lỏng

Theo đó, Ủy ban Chính sách tiền tệ (MPC) của BOE đã bỏ phiếu nhất trí giữ lãi suất cho vay chính ở mức thấp lịch sử 0,1%. Đa số các thành viên của MPC cũng bỏ phiếu ủng hộ việc tiếp tục duy trì chương trình mua tài sản ở mức hiện tại là 895 tỷ bảng Anh (1,24 nghìn tỷ USD).

MPC đã không thay đổi chính sách tiền tệ siêu nới lỏng của mình kể từ ngày 5/11/2020 khi họ tăng quy mô chương trình mua tài sản từ 745 tỷ bảng Anh lên 895 tỷ bảng Anh. Thậm chí BOE đã giữ nguyên lãi suất chính sách ở mức 0,1% suốt từ thời điểm tháng 3/2020 đến nay.

Điều đáng chú ý là BOE vẫn quyết định giữ nguyên chính sách tiền tệ siêu nới lỏng của mình cho dù cơ quan này cũng đã đề cập đến rủi ro lạm phát.

ngan hang trung uong anh giu nguyen chinh sach tien te sieu noi long
Ảnh minh họa

BOE lưu ý rằng “diễn biến về tăng trưởng GDP toàn cầu có phần mạnh hơn dự đoán” kể từ báo cáo cuối cùng vào tháng 5. BOE cũng nói thêm rằng áp lực giá toàn cầu đã tănglên. Trong tương lai, MPC dự kiến nền kinh tế Vương quốc Anh sẽ trải qua một giai đoạn tạm thời tăng trưởng GDP mạnh và lạm phát trên mục tiêu, tuy nhiên "sau đó tăng trưởng và lạm phát sẽ giảm trở lại".

Mặc dù vậy theo BOE, có những rủi ro xung quanh dự báo này và áp lực tăng giá trong ngắn hạn có thể lớn hơn một chút so với dự kiến. Tuy nhiên “tổng hợp bằng chứng từ các thước đo trên thị trường tài chính và khảo sát các hộ gia đình, doanh nghiệp và các nhà dự báo chuyên nghiệp, MPC đánh giá rằng kỳ vọng lạm phát của Vương quốc Anh vẫn được duy trì tốt ”.

Lạm phát giá tiêu dùng của Anh ở mức 2,1% trong tháng 5, vượt dự báo và lần đầu tiên vượt qua mục tiêu 2% của BOE trong gần hai năm qua. Lạm phát cơ bản cũng tăng từ 1,3% vào tháng 4 lên 2% vào tháng 5.

Andy Haldane - Nhà kinh tế trưởng sắp mãn nhiệm của BOE chính là người có ý kiến bất đồng trong cuộc họp cuối cùng của ông với tư cách là thành viên của MPC. Haldane trước đó đã cảnh báo rằng, "con hổ của lạm phát" đang đến và hối thúc BOE cắt giảm chương trình nới lỏng định lượng tại cuộc họp tháng 5.

Không sớm thắt chặt

“Không có dấu hiệu thực sự nào cho thấy BOE đang suy nghĩ về việc thắt chặt chính sách sớm hơn, cũng giống như Fed. Chúng tôi nghĩ rằng chính sách sẽ được thắt chặt muộn hơn nhiều so với thời điểm giữa năm 2022 mà thị trường đã giả định”, Paul Dales - Nhà kinh tế trưởng tại Capital Economics cho biết.

Hinesh Patel - Giám đốc danh mục đầu tư tại Quilter Investors cho biết, BOE đang tiếp cận một cách thận trọng khi tiếp tục giữ phương châm "chờ đợi và quan sát".

Theo Patel, mặc dù tăng trưởng kinh tế của Vương quốc Anh có vẻ mạnh, song BOE đã đúng khi tiếp tục duy trì chính sách nới lỏng. Theo đó BOE cần lường trước những tác động khi kết thúc chính sách kích thích tiền tệ và sự phục hồi của thị trường lao động cũng như hiểu rõ hơn về áp lực lạm phát có phải chỉ là nhất thời hay không trước khi có những thay đổi chính sách.

Mặc dù thị trường không mong đợi sẽ có bất kỳ sự thay đổi chính sách nào tại cuộc họp lần này, nhưng điều mà các nhà đầu tư đang quan tâm là quan điểm của BOE về áp lực lạm phát và manh mối về lịch trình thắt chặt trong tương lai. Các số liệu về lạm phát cho thấy áp lực là lớn hơn so với dự kiến trước đó của ngân hàng, theo biên bản từ cuộc họp trước.

Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ tuần trước đã gây bất ngờ cho thị trường với một sự thay đổi quan điểm, nâng cao kỳ vọng lạm phát và đưa ra kế hoạch tăng lãi suất để dự kiến hai lần tăng vào năm 2023.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.636 22.856 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.653 22.865 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.642 22.852 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.900
56.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.900
56.600
Vàng SJC 5c
55.900
56.620
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800