Nguồn cung BĐS phía Tây Hà Nội nhiều triển vọng trong 2021

08:05 | 20/01/2021

Thị trường biệt thự, nhà liền kề Hà Nội dù tiếp tục được cải thiện nhưng vẫn thiếu nguồn cung mới do sự cẩn trọng của cả chủ đầu tư lẫn người mua. Nguồn cung tương lai tập trung tại phía Tây mang lại nhiều triển vọng hứa hẹn cho năm 2021.

nguon cung bat dong san phia tay ha noi nhieu trien vong trong 2021 Khám phá biệt thự sinh thái, hiện đại hàng đầu phía Tây Hà Nội
nguon cung bat dong san phia tay ha noi nhieu trien vong trong 2021 Hà Nội: Nguồn cung biệt thự, nhà liền kề hạn chế do chủ đầu tư trì hoãn mở bán
nguon cung bat dong san phia tay ha noi nhieu trien vong trong 2021

Ông Nguyễn Đức Thêm - Quản lý Kinh doanh Nhà ở Savills Hà Nội cho biết, nguồn cung mới đạt khoảng 190 căn từ 4 dự án, giảm 56% theo quý và 65% theo năm. Các dự án mới mở bán theo từng phân khu chứ không tung toàn bộ sản phẩm, trong khi đó, các dự án đang bán không mở bán thêm do lượng đã mở bán còn tồn.

Nguồn cung sơ cấp đạt 1.546 căn, giảm 15% theo quý nhưng tăng 20% theo năm.

Hoạt động thị trường trong quý 4 đạt 509 giao dịch, tăng 12% theo quý nhưng giảm 17% theo năm. Quận Hà Đông dẫn đầu lượng giao dịch với 48% thị phần. Tỷ lệ hấp thụ theo quý ở mức 33% là mức cao nhất trong năm 2020, tăng 8% theo quý nhưng giảm 15% theo năm.

Tuy nhiên, tình hình hoạt động cả năm 2020 vẫn ở mức thấp nhất kể từ năm 2016. Lượng giao dịch đạt 1.715, giảm 61% theo năm và tỷ lệ hấp thụ khoảng 65%, giảm 25% theo năm.

Theo ông Nguyễn Đức Thêm, giá sơ cấp trung bình của biệt thự đạt 4.299 USD/m2 giảm 13% theo quý, giá trung bình của nhà liền kề là 4.832 USD/m2 tăng 5% theo quý.

Trong năm 2021, dự kiến có khoảng 4.900 căn từ 16 dự án được mở bán. Hầu hết nguồn cung tương lai nằm tại huyện Hoài Đức, theo sau là Hà Đông, Đan Phượng, Hoàng Mai.

Phân khúc bán lẻ có tổng nguồn cung đạt khoảng 1,6 triệu m2, tăng 1% theo quý và 1% theo năm sau khi Vincom Mega Mall Ocean Park ra mắt tại khu vực phía Đông. Trong 5 năm qua, nguồn cung tăng trưởng trung bình 5%/năm. Khu vực nội thành với thị phần 42% ghi nhận mật độ bán lẻ cao nhất là 0,48 m2/người.

Giá thuê gộp trung bình tầng trệt tăng 3% theo quý nhưng giảm 3% theo năm. Công suất thuê trung bình tăng 1 điểm % theo quý nhưng giảm 2 điểm % theo năm. Diện tích cho thuê thêm năm 2020 ở mức 9.000 m2 với kết quả kém nhất tại phân khúc trung tâm mua sắm và khu vực phía Tây.

Bà Hoàng Diệu Trang - Quản lý cấp cao Bộ phận cho thuê Thương mại Savills Hà Nội cho biết, lượng khách mua sắm đang dần hồi phục nhưng vẫn chưa trở lại mức trước đại dịch khi sự chi tiêu ngẫu hứng và tốn kém bị hạn chế nhằm mục đích tiết kiệm. Một số thương hiệu cao cấp mở các cửa hàng chủ chốt mới, trong khi nhiều cửa hàng mặt phố vẫn bị bỏ trống hoặc bị chuyển đổi mục đích sử dụng, dễ thấy nhất tại khu vực trung tâm sau khi lượng khách du lịch sụt giảm mạnh.

Về triển vọng thị trường bán lẻ, đại diện Savills cho hay, đến hết năm 2022, 18 dự án với nguồn cung hơn 158.000 m2 dự kiến sẽ ra mắt. Dự án đáng chú ý nhất là Vincom Mega Mall Smart City (2021). Nguồn cung lớn liên tục mở rộng ra ngoài trung tâm dự kiến sẽ kéo giá thuê và công suất thuê toàn thị trường đi xuống.

Về phân khúc căn hộ bán cho thấy dấu hiệu phục hồi. Nguồn cung mới gần 5.500 căn từ 10 dự án mở bán mới và giai đoạn tiếp theo của 8 dự án, tăng 79% theo quý nhưng giảm 59% theo năm. Nguồn cung sơ cấp gồm 27.100 căn tăng 1% theo quý nhưng giảm 19% theo năm.

Nhu cầu bị dồn nén đã thúc đẩy hoạt động thị trường. Tổng số căn hộ bán đạt gần 6.700 căn, tăng 27% theo quý với tỷ lệ hấp thụ đạt 25%, tăng 5 điểm % theo quý. Hạng B và C hoạt động tốt. Tình hình thị trường cả năm bị ảnh hưởng bởi đại dịch với số lượng căn bán được giảm 43% theo năm xuống mức thấp

Về giá bán, bà Đỗ Thu Hằng - Giám đốc Bộ phận nghiên cứu và tư vấn Savills Hà Nội cho biết, giá bán căn hộ được hưởng lợi từ việc nâng cấp cơ sở hạ tầng. Giá chào bán trung bình tăng 4% mỗi năm trong vòng 5 năm qua. Cơ sở hạ tầng phát triển tạo điều kiện cho việc sống xa trung tâm. Việc hoàn thành các tuyến đường sắt đô thị và đường vành đai góp phần củng cố xu hướng này.

Khung hợp tác công - tư đã được đơn giản hóa trong năm 2020. Ổn định chính trị và việc ra các quyết định nhanh hơn làm tăng chi tiêu cho các dự án cơ sở hạ tầng trọng điểm. Tổng cục Thống kê ước tính khi vốn đầu tư công tăng 1 điểm %, GDP tăng trưởng 0,06 điểm %.

Về triển vọng thị trường trong năm 2021, khoảng 25.000 căn hộ từ 25 dự án mới và giai đoạn tiếp theo sẽ mở bán. Hạng B sẽ tiếp tục dẫn đầu, với 78% thị phần. Hoạt động đầu tư bất động sản sẽ ghi nhận các thương hiệu mới xuất hiện và các thương hiệu hiện tại mở rộng danh mục đầu tư tại Việt Nam. Sự phát triển và tăng trưởng của proptech đang được thúc đẩy bởi nhịp phát triển của thị trường bất động sản.

“Năm 2021 thị trường căn hộ Hà Nội sẽ chứng kiến thêm hàng loạt dự án đến từ các chủ đầu tư phía Nam”, bà Nguyễn Thu Hằng chia sẻ.

Hải Yến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.810 23.040 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.840 23.040 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.820 23.040 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.840 23.020 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.840 23.020 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.835 23.050 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.820 23.035 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.840 23.020 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.870 23.020 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.650
57.370
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.650
57.350
Vàng SJC 5c
56.650
57.370
Vàng nhẫn 9999
51.000
51.700
Vàng nữ trang 9999
50.700
51.400