Hà Nội: Nguồn cung biệt thự, nhà liền kề hạn chế do chủ đầu tư trì hoãn mở bán

10:57 | 16/10/2020

Nguồn cung biệt thự, nhà liền kề trong quý IV/2020 tại Hà Nội sẽ vẫn bị hạn chế do nhiều chủ đầu tư lớn trì hoãn, không muốn mở bán, Savills vừa đưa ra dự báo.

ha noi nguon cung biet thu nha lien ke han che do chu dau tu tri hoan mo ban Bất chấp đại dịch, phân khúc căn hộ cao cấp ở TP. HCM vẫn không hạ nhiệt
ha noi nguon cung biet thu nha lien ke han che do chu dau tu tri hoan mo ban Giá đất bị đẩy cao gây bất ổn thị trường bất động sản
ha noi nguon cung biet thu nha lien ke han che do chu dau tu tri hoan mo ban

Thị trường biệt thự, nhà liền kề cải thiện chậm

Theo ông Nguyễn Đức Thêm, Quản lý Kinh doanh Nhà ở - Savills Hà Nội, thị trường biệt thự, nhà liền kề tại Thủ đô thời gian qua cải thiện chậm với đa phần giao dịch đến từ các sản phẩm có giá cả hợp lý. Triển vọng tương lai vẫn chưa rõ ràng với nguồn cung hạn chế và việc mở bán của nhiều dự án bị trì hoãn.

Báo cáo mới nhất của Savills Việt Nam về thị trường bất động sản Hà Nội cho thấy, quý III/2020, 3 dự án mới được triển khai và giai đoạn tiếp theo của ba dự án cung cấp cho thị trường khoảng 430 căn, giảm -46% theo quý nhưng tăng hơn 500% theo năm.

Trong các năm vừa qua, quý này thường ghi nhận nguồn cung mới thấp nhất do ảnh hưởng của “Tháng cô hồn” (tháng 7 âm lịch). Tuy nhiên, các chủ đầu tư vẫn tiếp tục mở bán các dự án mới và giai đoạn tiếp theo của dự án.

“Quận Hà Đông và Hoàng Mai dẫn đầu nguồn cung mới với giai đoạn tiếp theo của dự án Kiến Hưng Luxury và Louis City Hoàng Mai. Hà Đông tiếp tục dẫn đầu nguồn cung sơ cấp với 39% thị phần. Với lượng tồn kho cao, quận Hà Đông được kì vọng sẽ dẫn đầu thị trường cho tới hết năm”, bà Đỗ Thu Hằng, Giám đốc Bộ phận nghiên cứu và tư vấn Savills Hà Nội, chia sẻ.

Hoạt động thị trường của quý III/2020 đạt 455 giao dịch, giảm -3% theo quý và giảm -13% theo năm. Quận Hà Đông dẫn đầu lượng giao dịch với 44% thị phần. Tỷ lệ hấp thụ theo quý ở mức 25%, ổn định theo quý nhưng giảm -16 điểm % theo năm, mức thấp nhất trong vòng ba năm.

Theo bà Đỗ Thu Hằng, các sản phẩm có giá sơ cấp dưới 5.000 USD/m2 chiếm gần 70% lượng giao dịch quý III; các căn có giá từ 5.000 - 7.500 USD/m2 chiếm khoảng 25% lượng giao dịch; 5% giao dịch còn lại là các căn có giá trên 7.500 USD/m2.

Dự kiến, trong quý IV/2020, hai dự án cung cấp khoảng 470 căn sẽ gia nhập thị trường tại huyện Đông Anh và quận Hà Đông. Dịch bệnh đã buộc nhiều dự án thay đổi thời gian dự kiến mở bán trong năm nay lùi lại cho đến ít nhất năm sau. Một vài dự án đang hoàn thiện hạ tầng hoặc thậm chí đang xây dựng tiếp tục lùi ngày mở bán sang năm sau.

Các dự án nằm ngoài khu vực trung tâm sẽ được hưởng lợi lớn từ các dự án hạ tầng được hoàn thành và sắp triển khai, đặc biệt là các dự án xung quanh vành đại 3 gồm một số dự án kéo dài, cầu vượt, hầm và đường dẫn.

Nguồn cung căn hộ tại Hà Nội giảm

Cũng theo báo cáo của Savills Việt Nam, quý III/2020, khoảng 3.100 căn hộ mở bán từ bốn dự án mới và giai đoạn tiếp theo của chín dự án, giảm -50% theo quý và -60% theo năm - nguồn cung mới thấp nhất trong 5 năm qua.

Nguồn cung sơ cấp đạt 26.800 căn hộ, giảm -8% theo quý và -9% theo năm. Các chủ đầu tư trì hoãn tung bán mới do tác động của các yếu tố bất ổn. Số lượng căn bán đạt 5.200, giảm -3% theo quý và -44% theo năm. Hạng B và C chiếm gần như toàn bộ số lượng căn bán được. Nguồn cầu giảm do thiếu nguồn cung mới và hàng tồn kho giá cao.

Giá sơ cấp trung bình tăng 3% theo quý và 10% theo năm lên 1.500 USD/m2. Giá thứ cấp trung bình bị ảnh hưởng bởi đại dịch nhiều hơn, giảm -1% theo quý xuống 1.157 USD/m2.

Bà Đỗ Thu Hằng cho biết, thị trường có sự nhạy cảm về giá và bất ổn với việc thiếu nguồn cung hạng A. Nhu cầu căn hộ bình dân tăng nhanh (hạng B, C chiếm đến 99%) trong thời gian qua.

Khảo sát của Savills gần đây cho thấy giá và diện tích là các yếu tố chính quyết định việc mua nhà. Chênh lệch giá bán giữa khu vực nội thành và khu vực lân cận ngày càng thu hẹp do nhiều tiện ích được cung cấp để bù đắp cho các bất lợi về mặt vị trí.

Thị trường ghi nhận các dự nằm ở các huyện ngoại thành đã có giá thu hẹp dần khoảng cách với các dự án lân cận vành đai 2, nhiều dự án ở Mỹ Đình cũng tăng lên mức 50-60 triệu đồng/m2.

Đại diện Savills dự báo, trong quý IV sẽ có khoảng 9.980 căn hộ từ một dự án hiện tại và 11 dự án trong tương lai được ra mắt. Dẫn đầu nguồn cung tương lai là huyện Gia Lâm với 38% thị phần, Từ Liêm với 37% thị phần. Savills dự báo, khi đại dịch Covid-19 được kiểm soát, thị trường sẽ phục hồi hoàn toàn nhờ tăng trưởng kinh tế và dân số trong dài hạn.

Hải Yến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.042 23.272 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.260 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.076 23..288 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.069 23.269 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.090 23.270 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.120 23.250 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.800
56.320
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.800
56.300
Vàng SJC 5c
55.800
56.320
Vàng nhẫn 9999
53.370
53.870
Vàng nữ trang 9999
52.870
53.570