Nhà ở xã hội thiếu trầm trọng

10:24 | 17/01/2020

Theo đánh giá của ngành xây dựng TP.HCM, hiện nay, thị trường nhà ở chưa đa dạng về vị trí, loại hình, diện tích, giá thành, cũng như phương thức sở hữu. Đặc biệt, nguồn cung nhà ở xã hội dành riêng cho người có thu nhập thấp, nhà ở xã hội cho thuê... còn rất hạn chế.

Gia tăng dân số đặt ra các yêu cầu cao hơn về hạ tầng kỹ thuật và xã hội, đặc biệt là vấn đề về nhà ở tại TP.HCM. Tuy nhiên, nguồn cung nhà ở còn hạn chế so với nhu cầu dân số ngày càng gia tăng, cho đến nay, diện tích nhà ở bình quân đầu người tại TP.HCM đạt 19,91 m2/người (vượt chỉ tiêu đề ra vào cuối năm 2020 là 19,8 m2/người). Tuy nhiên, vẫn còn bộ phận lớn người lao động, đặc biệt là người dân nhập cư, người có thu nhập thấp đang sinh sống trong điều kiện chật chội, cũ kỹ, chưa đảm bảo về vệ sinh, an toàn. Theo kết quả sơ bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở mới đây, vẫn còn một bộ phận hộ dân cư đang sống trong các ngôi nhà chật hẹp có diện tích dưới 6 m2/người.

Ảnh minh họa

Theo đánh giá của ngành xây dựng TP.HCM, hiện nay, thị trường nhà ở chưa đa dạng về vị trí, loại hình, diện tích, giá thành, cũng như phương thức sở hữu. Đặc biệt, nguồn cung nhà ở xã hội dành riêng cho người có thu nhập thấp, nhà ở xã hội cho thuê... còn rất hạn chế. Thậm chí, Hiệp hội Bất động sản TP.HCM thống kê trong năm 2019, thành phố không triển khai dự án nhà ở xã hội nào. Toàn TP.HCM chỉ có 1 dự án nhà ở thương mại được UBND thành phố chấp thuận chủ trương đầu tư. So với cùng kỳ năm ngoái giảm 12 dự án, tương đương mức giảm 92%.

Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP.HCM cho rằng năm 2019 cũng là năm thứ hai, thị trường bất động sản và các doanh nghiệp bất động sản lại phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức rất lớn. Quy mô thị trường và nguồn cung dự án, nguồn cung sản phẩm nhà ở bị sụt giảm mạnh, nhất là phân khúc nhà ở thương mại có giá vừa túi tiền và nhà ở xã hội. Giá nhà tăng cao, trong đó, căn hộ chung cư tăng giá khoảng 15-20% (cá biệt, có dự án nhà ở tại quận 9 có mức giá bán căn hộ tăng đến 39%) so với năm 2018. “Do vậy, số đông người có thu nhập trung bình, người có thu nhập thấp đô thị, đặc biệt là các cặp vợ chồng trẻ, mới lập nghiệp khó tạo lập nhà ở hơn, giấc mơ có nhà ở ngày càng xa vời”, ông Châu cho biết.

Theo các chuyên gia để phát triển nhà ở xã hội, Sở Xây dụng phải chủ trì phối hợp với các đơn vị có liên quan hướng dẫn, hỗ trợ các nhà đầu tư đăng ký tham gia chương trình nhà ở xã hội của thành phố, thực hiện các thủ tục đầu tư xây dựng, tham mưu cấp có thẩm quyền ban hành quyết định chủ trương đầu tư, giao đất, thẩm định thiết kế cơ sở, thấm định thiết kế kỹ thuật, cấp giấy phép xây dựng... để đảm bảo đủ điều kiện khởi công xây dựng theo quy định của pháp luật.

Theo ông Lê Hòa Bình - Giám đốc Sở Xây dựng TP.HCM, trong năm 2020, sở sẽ chủ trì phối hợp với các đơn vị có liên quan tiếp tục hỗ trợ chủ đầu tư các dự án nhà ở xã hội đang triển khai thi công xây dựng để đảm bảo tiến độ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; Thực hiện đầy đủ các thủ tục nghiệm thu; Thẩm định giá bán, giá cho thuê nhà ở xã hội; Xác nhận đủ điều kiện huy động vốn; Kiểm tra, xác nhận đối tượng được hưởng chính sách nhà ở xã hội để đăng ký mua, thuê mua hoặc thuê tại các dự án nhà ở xã hội, đảm bảo theo quy định; Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật trong quản lý đầu tư xây dựng công trình, phát triển nhà ở xã hội trên địa bàn thành phố theo các quy định của pháp luật hiện hành...

Minh Lâm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.350 23.560 24.773 25.957 28.032 29.028 208,11 218,71
BIDV 23.390 23.570 25.160 25.995 28.367 28.968 209,82 218,27
VietinBank 23.350 23.540 25.137 25.972 28.339 28.979 210,49 218,19
Agribank 23.370 23.520 25.054 26.604 28.322 28.923 212,19 217,00
Eximbank 23.380 23.550 25.061 25,645 28.372 29.033 212,78 217,75
ACB 23.380 23.550 25.052 25.596 28.542 29.088 213,60 218,23
Sacombank 23.360 23.580 25.140 29.003 28.467 29.003 212,73 219,25
Techcombank 23.365 23.565 24.894 25.880 28.122 29.080 211,92 218,98
LienVietPostBank 23.380 23.560 24.961 25.941 28.361 29.330 211,80 222,95
DongA Bank 23.410 23.540 25.120 25.530 28.410 28.910 209,70 216,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.550
48.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.550
48.400
Vàng SJC 5c
47.550
48.420
Vàng nhẫn 9999
45.100
46.100
Vàng nữ trang 9999
44.700
45.800