Nhận diện thách thức, tìm “đường dài” cho nền kinh tế

15:10 | 26/04/2022

Đánh giá kinh tế Việt Nam năm 2021 và triển vọng năm 2022, các chuyên gia kinh tế cho rằng, vẫn còn nhiều thách thức từ bên ngoài và nội tại trong nước ảnh hưởng tới kinh tế Việt Nam. Mức tăng trưởng tiềm năng đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nằm trong khoảng 6,12-6,32%/năm. Hai  năm gần đây, nền kinh tế đều hoạt động dưới mức sản lượng tiềm năng nói trên rất xa, cho thấy nền kinh tế đang có dấu hiệu bước vào chu kỳ đi xuống.    

nhan dien thach thuc tim duong dai cho nen kinh te
Các chuyên gia cho rằng, chính sách tài khóa là "chủ công" để hồi phục và phát triển kinh tế

Chính sách tài khoá là “chủ công”

Tại Hội thảo khoa học quốc gia đánh giá kinh tế Việt Nam năm 2021 và triển vọng năm 2022 diễn ra mới đây, Trưởng đại diện IMF - Francois Painchaud đưa dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam có thể đạt 6% năm 2022 và 7% năm 2023, nếu vẫn duy trì được bình thường hóa các hoạt động kinh tế, thương mại, đầu tư.

Dự báo trên cho thấy để đạt mục tiêu đặt ra là tăng trưởng GDP cả năm từ 6-6,5% sẽ còn nhiều thách thức. TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) tính toán rằng, với tăng trưởng GDP quý I đạt 5,3%, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm 6,5%, các quý còn lại chắc chắn phải tăng trưởng trên 6%.

Bàn về giải pháp cho những tháng cuối năm, ông Francois Painchaud cho rằng chính sách tài khoá (giảm thuế, tăng đầu tư công…) đóng vai trò quan trọng, vừa hỗ trợ sự phục hồi tổng cầu vừa thúc đẩy tiêu dùng thông qua các chính sách giảm thuế.

Do đó, chính sách tài khoá phải đi đầu, cùng với chính sách tiền tệ hỗ trợ các hộ gia đình, doanh nghiệp. Trong ngắn hạn là phục hồi, trung hạn là tăng trưởng bền vững và bao trùm với huy động, nuôi dưỡng về nguồn thu, củng cố tài khoá… cũng như sự linh hoạt của chính sách tiền tệ”, ông Francois Painchaud khuyến nghị.

Đề cập đến các gói phục hồi kinh tế, ông Cung cũng đặc biệt nhấn mạnh tới đầu tư công. Hiện nay, giải ngân nguồn vốn này vẫn chậm. Tuy Thủ tướng Chính phủ yêu cầu đẩy nhanh giải ngân đầu tư công và đã có những ý kiến đề xuất thay đổi về biện pháp giải phóng mặt bằng, tuy nhiên vấn đề nằm ở từng dự án chứ không hẳn là vấn đề thể chế.

Bên cạnh đầu tư công, ông Nguyễn Đình Cung cũng nhấn mạnh những động lực chính cho tăng trưởng vẫn là xuất khẩu và thúc đẩy tổng cầu. Tổng cầu nền kinh tế có tăng lên nhưng chưa đủ mức cao như những năm trước, đó là lý do giải thích lạm phát cao nhưng chỉ số CPI vẫn thấp. Về xuất khẩu, tuy các yếu tố bên ngoài tác động không thuận nhưng ông Cung tin rằng xuất khẩu năm nay vẫn đạt tốc độ tốt vì những thị trường chủ yếu của Việt Nam vẫn có nhu cầu lớn.

“Để đảm bảo cân bằng bên trong của nền kinh tế thì sản lượng cần được duy trì gần mức tiềm năng; cần thực hiện các chính sách tài khóa và tiền tệ hướng về tổng cầu trong ngắn hạn để đẩy nền kinh tế quay trở lại vị trí tiềm năng. Tuy nhiên, chính sách cần được nới lỏng một cách thận trọng để tránh gây rủi ro bất ổn kinh tế vĩ mô”, PGS. TS. Tô Trung Thành - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân nhấn mạnh.

Ông Thành cũng thừa nhận chính sách tài khóa là chính sách hỗ trợ quan trọng nhất hiện nay. Theo đó, cần triển khai chính sách tài khoá nghịch chu kỳ mở rộng chi tiêu, chấp nhận bội chi cao để ưu tiên cho tăng trưởng. Việc gia tăng hỗ trợ tài khóa ở mức khoảng 5-6% GDP trong ít nhất 2-3 năm là phù hợp. Tuy nhiên cần lưu ý chính sách chỉ hiệu quả khi chi tiêu đầu tư công hiệu quả.

“Hiệu quả chi tiêu công sẽ là nhân tố quyết định tính bền vững của nợ công. Cần cải cách thể chế đầu tư công, nâng cao hiệu quả đầu tư công. Đảm bảo giải ngân nhanh chóng nhưng phải có hiệu quả, tránh lãng phí, thất thoát, tham nhũng”, ông Thành lưu ý.

Tìm “đường dài” cho nền kinh tế

Các chuyên gia khuyến nghị Chính phủ cần quán triệt 3 quan điểm cơ bản khi đưa ra các chính sách. Đầu tiên, các chính sách cần tập trung hướng đến làm thế nào để hồi phục và phát triển nền kinh tế một cách bền vững trong bối cảnh “sống chung với Covid-19”.

Để hóa giải các rủi ro và lành mạnh hóa tài chính, đối với thị trường chứng khoán cần phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp theo hướng minh bạch gắn với xếp hạng tín nhiệm; Đa dạng hoá sản phẩm chứng khoán, phát triển các nhà đầu tư tổ chức; Xây dựng và hoàn thiện quy trình quản lý rủi ro hệ thống nhằm đảm bảo tính ổn định cho toàn thị trường; Đẩy mạnh giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về chứng khoán.

Đối với thị trường bất động sản, cần xem xét trái phiếu doanh nghiệp bất động sản như một khoản nợ bất động sản dưới chuẩn. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện thể chế với việc định giá, tư vấn, phát hành, mua bán trái phiếu doanh nghiệp theo hướng loại bỏ mọi mọi xung đột lợi ích trên thị trường. Đồng thời, có các giải pháp đồng bộ để giảm đầu cơ trên thị trường bất động sản, loại bỏ xung đột lợi ích cơ bản trên thị trường bất động sản, tính tới nhanh chóng áp dụng Luật Tài sản.

Đối với hệ thống ngân hàng, tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng sự minh bạch và tuân thủ các chuẩn mực, thông lệ quốc tế; tiến tới luật hóa Nghị quyết 42 cũng như rà soát các luật khác có liên quan tới xử lý nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu.

Đề cập đến khu vực doanh nghiệp, Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Đức Hiển cho rằng trong điều kiện dư địa chính sách dần thu hẹp, các chính sách cần hướng nguồn lực ưu tiên đến khu vực doanh nghiệp, tạo điều kiện cho khu vực doanh nghiệp phục hồi và phát triển trong đại dịch; đặc biệt là những doanh nghiệp có ảnh hưởng lan tỏa lớn đến nền kinh tế.

Liên quan đến chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, cần hỗ trợ đúng đối tượng và thiết thực hơn, như Chính phủ cần thu hẹp đối tượng thụ hưởng các chính sách hỗ trợ dựa trên mức độ chịu tác động bởi đại dịch.

Việc mở rộng hỗ trợ tài khóa cần hướng đến khu vực doanh nghiệp mạnh mẽ hơn, trong đó tập trung vào hai khó khăn lớn nhất với cộng đồng doanh nghiệp là đứt gãy chuỗi cung ứng và chi phí sản xuất gia tăng.

Về dài hạn, việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế đặt ra mạnh mẽ để chủ động thích ứng và có những bước đi phù hợp; đảm bảo an ninh năng lượng, an ninh lương thực… trong bối cảnh mới.

Thái Hoàng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.180 23.490 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.190 23.470 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.195 23.495 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.180 23.470 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.230 23.450 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.230 23.460 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.220 23.567 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.209 23.500 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.150 23.440 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.250 23.500 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.100
68.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.100
68.700
Vàng SJC 5c
68.100
68.720
Vàng nhẫn 9999
53.100
54.050
Vàng nữ trang 9999
52.950
53.650