Nhật Bản tung ra gói kích thích kinh tế mới

09:05 | 27/05/2020

Theo tờ Nikkei của Nhật Bản, ngày 25/5/2020, nước này đã xem xét thông qua một gói kích thích mới trị giá hơn 929 tỷ USD chủ yếu để cứu trợ tài chính cho các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Chính phủ Nhật Bản sẽ họp để thông qua ngân sách trên vào ngày hôm nay.

Nhật Bản đang chật vật phục hồi
Nhật Bản sẽ bơm vốn vào các công ty lớn và vừa bị ảnh hưởng bởi đại dịch
Nhật Bản khuyến khích DN chuyển đại bản doanh sang Việt Nam và ASEAN

Gói kích thích trên thuộc ngân sách bổ sung thứ hai cho năm tài khóa hiện tại bắt đầu vào tháng 4 vừa qua và được đưa ra sau kế hoạch chi tiêu kỷ lục trị giá 1.100 tỷ USD mà Nhật Bản triển khai hồi tháng trước nhằm giảm nhẹ tác động của dịch bệnh đối với nền kinh tế.

Các biện pháp kích thích kinh tế đang được Chính phủ Nhật khẩn trương triển khai

Trong gói ngân sách bổ sung thứ hai trị giá 929 tỷ USD này, tương đương 100 nghìn tỷ Yên Nhật (JPY), có 60 nghìn tỷ JPY để mở rộng các chương trình cho vay dành cho các doanh nghiệp thông qua các thể chế tài chính tư nhân và liên kết với nhà nước. Bên cạnh đó, 27 nghìn tỷ JPY nữa sẽ được dành cho các chương trình cứu trợ tài chính khác, trong đó có 15 nghìn tỷ JPY cho một chương trình mới nhằm “bơm” vốn cho các công ty đang gặp khó khăn. Ngoài ra, gói ngân sách lần này còn bao gồm tiền trợ cấp để hỗ trợ các doanh nghiệp trả tiền thuê và lương cho nhân viên khi ngừng hoạt động kinh doanh.

Trước đó, các ngân hàng Nhật Bản cũng đã mở rộng chương trình kích thích tiền tệ trong 2 tháng liên tiếp và cam kết sẽ mua thêm trái phiếu.

Đồng thời, Nhật Bản đã dỡ bỏ tình trạng khẩn cấp ở hầu hết các khu vực trên cả nước và dự kiến sẽ tổ chức một cuộc họp để xem xét có nên đưa ra quyết định tương tự với các khu vực còn lại hay không, trong đó có cả Thủ đô Tokyo.

Đây sẽ là nỗ lực mới nhất của Tokyo nhằm hỗ trợ nền kinh tế đang có nguy cơ rơi vào đợt sụt giảm sâu nhất trong lịch sử thời hậu chiến, khi dịch Covid-19 đã làm tê liệt các doanh nghiệp và hoạt động chi tiêu tiêu dùng. Kinh tế Nhật Bản đã rơi vào suy thoái trong quý vừa qua và giới phân tích dự báo nền kinh tế này sẽ còn giảm thêm 22% trong quý hiện tại bởi tác động của dịch bệnh. Tình hình này đã buộc chính phủ phải tăng nợ công, vốn đang ở mức gấp 2 lần GDP, để chi cho những kế hoạch chi tiêu lớn.

Ngoài ra, Nhật Bản hiện cũng đang phải đối mặt với áp lực giảm phát quay trở lại. Cụ thể, Chính phủ Nhật Bản đã công bố chỉ số giá tiêu dùng lõi giảm 0,2% trong tháng 4 so với cùng kỳ năm ngoái. Chỉ số giá tiêu dùng lõi gồm cả các sản phẩm từ dầu mỏ, nhưng loại bỏ giá thực phẩm tươi sống có biến động lớn. Đây là lần đầu tiên số liệu này xuống âm kể từ tháng 12/2016. Giá cả đi xuống trong bối cảnh đại dịch đẩy kinh tế Nhật Bản vào suy thoái lần đầu tiên sau 5 năm, do cả tiêu dùng và hoạt động kinh doanh đi xuống. Việc này càng kéo tụt nỗ lực duy trì lạm phát ở mức 2% của BoJ.

Thái Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.300 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.115 23.295 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.116 23.306 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.130 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.120 23.290 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.115 23.285 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.108 23..318 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.102 23.302 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.120 23.280 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.150 23.270 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.830
49.200
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.830
49.180
Vàng SJC 5c
48.830
49.200
Vàng nhẫn 9999
48.680
49.280
Vàng nữ trang 9999
48.280
49.080