Những điểm nhấn tín dụng chính sách xã hội

09:16 | 20/01/2020

Cùng với sự khởi sắc của kinh tế - xã hội, hoạt động tín dụng chính sách năm 2019 cũng đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng vào đảm bảo an sinh xã hội của đất nước. Đây cũng là năm đánh dấu nhiều sự kiện nổi bật của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) trong hành trình hơn 17 năm đồng hành cùng người nghèo và đối tượng chính sách xã hội.

nhung diem nhan tin dung chinh sach xa hoi Tín dụng chính sách góp phần giảm nghèo
nhung diem nhan tin dung chinh sach xa hoi Tín dụng chính sách chắp cánh cho hộ nghèo
nhung diem nhan tin dung chinh sach xa hoi Triển khai Chỉ thị số 40-CT/TW: Nâng tầm tín dụng chính sách xã hội trên quê lúa

Tín dụng chính sách luôn được quan tâm

Trong buổi gặp mặt cán bộ, người lao động NHCSXH đầu năm 2019, Thủ tướng đánh giá mô hình hoạt động của NHCSXH được thực tế chứng minh là phù hợp với điều kiện, cấu trúc hệ thống chính trị của nước ta, không những về hiệu quả kinh tế, khả năng tiếp cận tín dụng, sử dụng vốn, mà còn có ý nghĩa chính trị xã hội rất lớn.

NHCSXH cần tiếp tục quản lý tốt nguồn vốn tín dụng CSXH, đáp ứng kịp thời, bảo đảm cho vay thuận lợi cho người dân, đúng đối tượng, đúng mục đích sử dụng, công khai, minh bạch. Cùng với đó, NHCSXH cũng cần tích cực tham gia để góp phần giải quyết vấn nạn tín dụng đen.

Bên cạnh đó, cần phối hợp tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện, củng cố chất lượng hoạt động để hệ thống NHCSXH đáp ứng tốt yêu cầu ngày càng cao trong giai đoạn phát triển mới. Đồng thời, Thủ tướng cũng yêu cầu các cơ quan như Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng Chính phủ trình Thủ tướng Chính phủ giao vốn điều lệ, cấp vốn kịp thời cho NHCSXH để thực hiện các chương trình chính sách xã hội hàng năm.

nhung diem nhan tin dung chinh sach xa hoi

5 năm triển khai Chỉ thị số 40-CT/TW

Để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của NHCSXH, ngày 22/11/2014, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 40-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với tín dụng chính sách xã hội (Chỉ thị số 40-CT/TW). Có thể nói, đây là văn bản rất quan trọng, thể hiện sự quan tâm của Đảng đối với một chính sách thiết yếu, một kênh tín dụng giúp hộ nghèo, hộ cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS)... vươn lên ổn định cuộc sống, phát triển sản xuất, giảm nghèo bền vững.

Qua 5 năm triển  khai và thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW, trên địa bàn các tỉnh, thành phố cả nước đều ghi nhận đã có sự chuyển biến tích cực trong nhận thức, ý thức, tinh thần trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền đoàn thể, của đội ngũ cán bộ, viên chức, nhất là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu các cấp trong việc triển khai thực hiện nhiệm vụ thực thi tín dụng chính sách, phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững, đảm bảo an sinh xã hội, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, ngày càng trong sạch vững mạnh.

Đẩy mạnh hơn nữa vốn ưu đãi đến với vùng DTTS

Một Hội thảo khoa học “Đánh giá hiệu quả các chương trình tín dụng chính sách xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại Việt Nam” được tổ chức trong năm vừa qua đã mang lại bức tranh toàn cảnh về cho vay ưu đãi ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS.

Các đại biểu đều đánh giá vốn tín dụng chính sách xã hội đã làm thay đổi căn bản nhận thức của đồng bào DTTS từ mặc cảm, tự ti, nay mạnh dạn vay vốn và làm ăn có hiệu quả; giúp đồng bào dần nâng cao chất lượng cuộc sống; nâng cao trình độ quản lý sản xuất, kinh doanh, cũng như trình độ quản lý vốn để dần vươn lên thoát nghèo, làm giàu trên chính quê hương mình, góp phần ngăn chặn tệ cho vay nặng lãi ở vùng nông thôn, vùng DTTS…Đến nay, có trên 1,4 triệu khách hàng là hộ đồng bào DTTS đang thụ hưởng hầu hết các chương trình tín dụng tại NHCSXH với tổng dư nợ là 49.617 tỷ đồng, chiếm 24,8% tổng dư nợ của NHCSXH. Dư nợ bình quân một hộ DTTS đạt 34 triệu đồng/bình quân chung là 30,4 triệu đồng.

HSSV được vay ưu đãi tối đa 2,5 triệu/tháng

Theo Quyết định1656/QĐ-TTgđiều chỉnh mức cho vay quy định tại Khoản 1 Điều 5 Quyết định157/2007/QĐ-TTgngày 27/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên (HSSV), từ ngày 1/12/2019, mức cho vay tối đa với HSSV  là 2,5 triệu đồng/tháng. Như vậy, so với mức cũ đã áp dụng từ 15/6/2017 thì mức cho vay mới tăng thêm 1 triệu đồng/tháng/HSSV.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính trình cấp có thẩm quyền cân đối, bố trí vốn cho vay, vốn cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý cho NHCSXH để triển khai thực hiện Chương trình sau năm 2020 theo quy định của pháp luật.

NHCSXH có trách nhiệm thực hiện cho vay, giám sát, thu hồi nợ vay theo quy định của pháp luật hiện hành, trong phạm vi tăng trưởng kế hoạch tín dụng đã được Thủ tướng Chính phủ giao hàng năm; tự cân đối nguồn vốn thực hiện từ nay đến năm 2020 trong kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016-2020 đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Chương trình tín dụng HSSV có ý nghĩa nhân văn sâu sắc cả về kinh tế, chính trị và xã hội, tạo được sự đồng thuận cao của các ngành, các cấp, của cộng đồng xã hội, sự gắn kết giữa kinh tế với xã hội trong công tác giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, góp phần tạo nguồn nhân lực cho đất nước.

Dịch vụ ngân hàng số cho người nghèo

Mới đây, NHCSXH đã khởi động dự án “Dịch vụ ngân hàng trên điện thoại di động - Tài chính toàn diện và tạo quyền năng kinh tế cho người thu nhập thấp và phụ nữ ở Việt Nam” giai đoạn 2.

Dự án được Bộ Ngoại giao và Bộ Thương mại Úc tài trợ trong khuôn khổ chương trình Hợp tác kinh doanh (Business Partnership Platform) và nhằm mục tiêu tăng cường và cải thiện sự tiếp cận tới các dịch vụ tài chính cho các hộ nghèo, hộ thu nhập thấp, đặc biệt là các doanh nghiệp vi mô do phụ nữ điều hành. Dự án giai đoạn 2 sẽ tiếp tục được thực hiện với sự phối hợp giữa NHCSXH, Mastercard và Quỹ châu Á (TAF) cho giai đoạn từ năm 2019-2022 tại 10 tỉnh: Ninh Bình, Hòa Bình, Hà Giang, Lào Cai, Nghệ An, Quảng Trị, Bình Định, Đắk Lắk, Cần Thơ, TP. Hồ Chí Minh. 

NHCSXH cũng đã và đang xây dựng Đề án phát triển Công nghệ thông tin NHCSXH đến năm 2025 nhằm tăng cường ứng dụng công nghệ trong hoạt động nghiệp vụ và đặc biệt là phát triển dịch vụ thanh toán số cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác.

Hộ nghèo được vay tối đa 100 triệu đồng

Cũng trong năm 2019, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước kiêm chủ tịch Hội đồng quản trị NHCSXH ký ban hành Quyết định số 12/QĐ-HĐQT về việc nâng mức cho vay và thời hạn cho vay tối đa đối với hộ nghèo đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ sản xuất kinh doanh.

Theo đó, kể từ ngày 01/3/2019, NHCSXH nâng mức cho vay tối đa đối với hộ nghèo từ 50 triệu đồng/hộ lên 100 triệu đồng/hộ vay không phải bảo đảm tiền vay. Đồng thời, nâng thời hạn cho vay tối đa lên 120 tháng phù hợp với quá trình sinh trưởng và phát triển của các đối tượng đầu tư dài hạn. Mức cho vay và thời hạn cho vay cụ thể đối với từng hộ vay được căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, chu kỳ sản xuất, kinh doanh, vốn tự có, khả năng trả nợ của hộ vay và nguồn vốn cho vay của NHCSXH.

Trường hợp hộ vay thuộc đối tượng của các chương trình tín dụng nêu trên đang sử dụng vốn vay có hiệu quả, thực hiện trả lãi đúng kỳ hạn theo thỏa thuận, nếu có nhu cầu vay thêm vốn để thực hiện phương án SXKD có khả thi thì có thể vay bổ sung nhưng mức dư nợ không vượt quá 100 triệu đồng/hộ.

Đây là một trong những giải pháp nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn của người dân tại mọi vùng miền trong toàn quốc, qua đó, cùng với các loại hình tổ chức tín dụng khác của ngành Ngân hàng góp phần đẩy lùi tín dụng phi chính thức.

Chí Kiên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.170 23.340 25.268 26.428 30.189 30.833 207,26 216,78
BIDV 23.200 23.340 25.610 26.388 30.325 30.925 209,46 216,52
VietinBank 23.193 23.343 25.551 26.386 30.229 30.869 211,38 217,38
Agribank 23.180 23.290 25.504 25.919 30.261 30.779 211,43 215,46
Eximbank 23.200 23.320 25.565 25.930 30.404 30.837 212,64 215,67
ACB 23.200 23.320 25.585 25.937 30.464 30.806 212,72 215,65
Sacombank 23.175 23.337 25.593 26.048 30.462 30.867 212,00 216,57
Techcombank 23.193 23.333 25.337 26.296 30.042 30.984 211,20 217,98
LienVietPostBank 23.170 23.290 25.467 25.871 29.382 30.858 211,88 216,09
DongA Bank 23.220 23.320 25.590 25.920 29.380 30.800 209,30 215,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
44.060
44.450
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.060
44.430
Vàng SJC 5c
44.060
44.450
Vàng nhẫn 9999
44.030
44.530
Vàng nữ trang 9999
43.630
44.430