Nỗ lực để đạt mục tiêu, sẵn sàng cho tình huống xấu nhất

09:17 | 30/06/2021

Theo các chuyên gia, cần xây dựng nhiều kịch bản khác nhau cho tăng trưởng năm nay, đặc biệt là kịch bản “xấu” để từ đó có cách ứng xử chính sách để kịch bản đó không xảy ra, hoặc nếu có xảy ra thì phí tổn là thấp nhất.

Triển vọng vẫn sáng

Ngay cả trong bối cảnh đợt dịch Covid thứ 4 bùng phát với quy mô và diễn biến phức tạp hơn cả 3 lần trước cộng lại, nhiều tổ chức nước ngoài trong các báo cáo mới nhất đều dự báo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn rất khả quan. Đơn cử, WB dự báo tăng trưởng GDP đạt 6,6% trong năm nay và 6,5% năm 2022; Ngân hàng Standard Chartered dự báo đạt 6,7% trong năm nay và 7,3% năm 2022; Văn phòng Nghiên cứu Kinh tế vĩ mô ASEAN + 3 (AMRO) dự báo đạt 7% năm nay (giữ nguyên so với dự báo đưa ra vào tháng 2/2021)… Thậm chí, Viện Kế toán công chứng Anh và xứ Wales (ICAEW) và Oxford Economics còn dự báo tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam năm nay sẽ đạt mức 7,6%, cao nhất trong khu vực Đông Nam Á.

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2021 của Tổng cục Thống kê (TCTK) vừa công bố ngày 29/6 cũng cho thấy, GDP quý II ước tăng 6,61% so với cùng kỳ năm trước, qua đó giúp GDP 6 tháng đầu năm 2021 tăng 5,64%. Mặc dù mức tăng trên chưa được như kỳ vọng nhưng phần nào vẫn cho thấy bức tranh khá tích cực. “Kết quả tăng trưởng 6 tháng đầu năm cho thấy sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự chung sức, đồng lòng của hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, nhân dân cả nước”, bà Nguyễn Thị Hương - Tổng cục trưởng TCTK cho biết.

no luc de dat muc tieu san sang cho tinh huong xau nhat
Các doanh nghiệp vừa phòng chống tốt dịch bệnh, vừa đảm bảo hoạt động sản xuất

Tuy nhiên một số chuyên gia trong nước có góc nhìn kém lạc quan hơn trong bối cảnh đợt dịch lần thứ 4 vẫn đang diễn biến phức tạp, dai dẳng và đặc biệt là tình trạng lây lan trong các khu công nghiệp. TS. Võ Trí Thành - nguyên Phó Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế Trung ương nhận định: “Với tăng trưởng 6 tháng đầu năm chỉ đạt 5,64% cho thấy việc đạt mục tiêu tăng trưởng Chính phủ đề ra đầu năm đang trở nên khó khăn hơn nhiều”.

TS. Nguyễn Trí Hiếu - chuyên gia tài chính cũng cho rằng, với bối cảnh như hiện nay nếu cả năm nay đạt được tăng trưởng ở mức 6% là rất lạc quan, còn khả quan là 5%. Trong khi nếu tình hình dịch tiếp tục diễn biến xấu hơn thì kịch bản xấu nhất có thể chỉ quanh mức 4%. “Tuy nhiên, tôi kỳ vọng 6 tháng cuối năm, đặc biệt từ quý IV khi tình hình kiểm soát đợt dịch thứ 4 này tốt hơn thì triển vọng tăng trưởng sẽ tích cực lên. Thế nên tất cả sẽ tùy thuộc vào vấn đề kiểm soát đợt dịch hiện nay như thế nào, cùng với đó là tỷ lệ dân số được tiêm chủng có đạt được như mục tiêu đưa ra hay không”, TS. Hiếu nói.

Cần sẵn sàng cho kịch bản xấu hơn

Các nhận định của các chuyên gia càng cho thấy, áp lực để đạt mục tiêu tăng trưởng 6,5% của năm nay thay vì tập trung nhiều vào quý II (theo Nghị quyết 01/NQ-CP của Chính phủ và kịch bản Chính phủ cập nhật lại tại thời điểm quý I/2021) sẽ phải dồn vào quý III và quý IV (6 tháng cuối năm cần tăng trưởng khoảng 7,2%). Trong khi đó, tăng trưởng quý III có thể tiếp tục lặp lại một quý khó khăn bởi theo các chuyên gia, đợt dịch lần thứ 4 bùng phát từ cuối tháng 4, chỉ thực sự thấy ảnh hưởng mạnh từ cuối tháng 5 đến tháng 6 này (đặc biệt là trong các khu công nghiệp - liên quan trực tiếp đến động lực tăng trưởng từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo) nên dự kiến tác động mới chỉ thể hiện một phần trong quý II và sẽ rõ nét hơn trong quý III tới.

TS. Võ Trí Thành chia sẻ, trong bối cảnh còn nhiều rủi ro, bất định như hiện nay, điều rất quan trọng là cần xây dựng nhiều kịch bản khác nhau và đặc biệt là kịch bản “xấu” để từ đó có cách ứng xử chính sách để kịch bản đó không xảy ra, hoặc nếu có xảy ra thì phí tổn là thấp nhất. Cùng quan điểm trên, TS. Hiếu cho rằng nên xây dựng các kịch bản theo hướng điều chỉnh hạ mục tiêu tăng trưởng năm nay xuống. “Kịch bản cơ sở nên xoay quanh mức tăng trưởng kinh tế năm nay chỉ 5%, tích cực là 6% và tiêu cực là 4%. Với mỗi kịch bản như thế, chúng ta sẽ có những thay đổi nhất định trong điều hành để đạt được trên cơ sở diễn tiến kiểm soát dịch bệnh”, chuyên gia này khuyến nghị.

Trong khi đó theo ông Lê Trung Hiếu - Vụ trưởng Vụ Hệ thống Tài khoản quốc gia (TCTK), để đạt được mục tiêu tăng trưởng 6% như Quốc hội đặt ra thì 6 tháng cuối năm cần tăng trưởng 6,3%. Dù đây là mục tiêu thách thức song có thể đạt được vì các động lực tăng trưởng cơ bản vẫn được duy trì và nhất là nếu chúng ta kiểm soát tốt dịch bệnh, đồng thời tiếp tục có các giải pháp đồng bộ để thực hiện mục tiêu kép, thúc đẩy tăng trưởng. “Chúng tôi cho rằng, từ kinh nghiệm năm 2020 cho thấy không nhất thiết phải đề nghị Quốc hội điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng đã đặt ra cho năm nay”, ông Hiếu nói.

Lạc quan hơn trong số các chuyên gia mà Thời báo Ngân hàng xin ý kiến là TS. Cấn Văn Lực - chuyên gia kinh tế trưởng của BIDV. “Theo dự báo về kịch bản cơ sở của Nhóm nghiên cứu Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV, tăng trưởng năm nay vẫn có thể đạt 6,1-6,3%, trên nền tăng trưởng thấp của năm ngoái”, chuyên gia này cho biết. Tuy nhiên, TS. Lực cũng thừa nhận áp lực để đạt được ngày càng lớn hơn.

Về giải pháp, TS. Lực cho rằng bên cạnh ưu tiên và quyết tâm thực hiện mục tiêu kép, cần duy trì các động lực tăng trưởng cả cũ và mới. Đặc biệt, cần tập trung thúc đẩy giải ngân đầu tư công vì đây là vấn đề chúng ta hoàn toàn có thể chủ động được. Cùng với đó là tập trung vào kích cầu tiêu dùng nội địa, phát triển kinh tế số, tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh và đơn giản hóa thủ tục hành chính. Đồng thời, quyết tâm giữ cho được các đầu tàu tăng trưởng như là Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh vì chỉ riêng 2 thành phố này đã chiếm đến 39% GDP cả nước. Ngoài ra, cần tiếp tục phối hợp tốt giữa các chính sách để đảm bảo các cân đối vĩ mô, ổn định vĩ mô và kiểm soát được lạm phát.

Về phía TCTK, một trong số những khuyến nghị được cơ quan này đưa ra là cần chủ động triển khai kịp thời các giải pháp hỗ trợ cho người dân, doanh nghiệp, đặc biệt là người lao động bị mất việc làm tại các khu công nghiệp. Tiếp tục tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, phục hồi kinh tế, cải cách quy trình, thủ tục để doanh nghiệp tiếp cận các chính sách hỗ trợ đơn giản, thuận tiện, kịp thời. Hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp trong việc tìm thị trường nhập khẩu nguyên, nhiên, vật liệu, phụ tùng, linh kiện thay thế nhằm vượt qua khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Đồng thời, hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp thành lập mới, doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp mở rộng đầu tư sản xuất kinh doanh, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển.

(Thực hiện Nghị quyết 84/NQ-CP ngày 29/05/2020 của Chính phủ)

Đỗ Lê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.665 22.865 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.645 22.865 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.880 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.650 22.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.350
57.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.350
57.000
Vàng SJC 5c
56.350
57.020
Vàng nhẫn 9999
50.400
51.300
Vàng nữ trang 9999
50.000
51.000