Phân loại rủi ro rửa tiền từ dữ liệu khách hàng và giao dịch
Theo hồ sơ dự thảo, kết quả đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền giai đoạn 2018-2022 xác định lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng là lĩnh vực có mức độ rủi ro rửa tiền cao. Đặc thù của lĩnh vực này là số lượng khách hàng lớn, khối lượng và giá trị giao dịch cao, cùng sự đa dạng về sản phẩm, dịch vụ và kênh giao dịch. Sự phát triển của dịch vụ ngân hàng hiện đại, công nghệ tài chính và giao dịch xuyên biên giới cũng đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với hoạt động phòng ngừa, nhận diện và giám sát rủi ro.
Trong khi đó, công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra về phòng, chống rửa tiền thời gian qua chủ yếu được thực hiện theo phương pháp giám sát tuân thủ, tập trung vào việc chấp hành quy định pháp luật và quy định nội bộ. Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), cách thức này chưa phản ánh đầy đủ mức độ rủi ro thực tế của từng đối tượng, chưa hỗ trợ tối ưu việc phân bổ nguồn lực cũng như phát hiện sớm dấu hiệu rủi ro, vi phạm.
Từ năm 2023, NHNN đã từng bước chuyển phương thức giám sát theo hướng kết hợp tiếp cận tuân thủ với tiếp cận trên cơ sở rủi ro. Cơ quan quản lý đã xây dựng công cụ giám sát đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, áp dụng bộ tiêu chí để chấm điểm, phân loại theo mức độ rủi ro và sử dụng kết quả này trong xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra. Tuy nhiên, hồ sơ dự thảo cho biết việc triển khai vẫn đang ở giai đoạn đầu, chưa được áp dụng đồng bộ và còn thiếu khuôn khổ pháp lý cụ thể cho hoạt động giám sát trên cơ sở rủi ro.
Dự thảo Thông tư vì vậy đặt trọng tâm vào việc thiết lập một quy trình thống nhất. Theo đó, hoạt động giám sát sẽ gồm ba bước: tiếp nhận, thu thập, tổng hợp và xử lý tài liệu, thông tin, dữ liệu; thực hiện giám sát tuân thủ và/hoặc giám sát trên cơ sở rủi ro; cuối cùng là lập báo cáo giám sát và đề xuất biện pháp xử lý. Nguyên tắc đặt ra là hoạt động giám sát phải chính xác, khách quan, kịp thời và không làm cản trở hoạt động bình thường của đối tượng được giám sát.
Một nội dung được quan tâm tại dự thảo là cách xác định mức độ rủi ro của từng đối tượng. Thay vì chỉ xem xét việc có thực hiện đúng các yêu cầu pháp luật hay không, cơ quan giám sát sẽ sử dụng thông tin, dữ liệu để phân tích rủi ro theo nhiều nhóm yếu tố.
Trước hết là rủi ro cấu trúc, dựa trên các thông tin về cơ cấu tổ chức, mô hình quản trị, hệ thống kiểm soát nội bộ, mạng lưới hoạt động trong và ngoài nước, tổng tài sản, số lượng khách hàng, doanh số giao dịch, công ty mẹ, công ty con và đối tác liên kết nước ngoài.
Tiếp đến là rủi ro cố hữu, được xem xét từ bốn nhóm chính gồm khách hàng, sản phẩm - dịch vụ, kênh phân phối và khu vực địa lý. Chẳng hạn, với khách hàng, dữ liệu được quan tâm gồm số lượng khách hàng đang hoạt động, khách hàng được xếp loại rủi ro cao, người có ảnh hưởng chính trị, nơi cư trú và ngành nghề. Với sản phẩm, dịch vụ, cơ quan giám sát xem xét số lượng khách hàng và giá trị giao dịch liên quan tới các sản phẩm, dịch vụ có mức độ rủi ro rửa tiền cao.
Một nhóm tiêu chí khác là khả năng kiểm soát, phòng ngừa rủi ro tại chính đối tượng được giám sát. Nội dung đánh giá bao gồm công tác quản trị, điều hành; chính sách và quy trình nội bộ; nhân sự phòng, chống rửa tiền; hoạt động đánh giá rủi ro; quy trình giám sát và báo cáo giao dịch đáng ngờ; đào tạo, kiểm toán, kiểm soát nội bộ và việc thực hiện các yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Phạm vi dữ liệu phục vụ quá trình này tương đối rộng. Phụ lục dự thảo yêu cầu thông tin về cơ cấu tổ chức, cổ đông, mạng lưới hoạt động, quy mô tổng tài sản, nhân sự thực hiện công tác phòng, chống rửa tiền; đồng thời thu thập dữ liệu về khách hàng, sản phẩm, dịch vụ, kênh phân phối và khu vực địa lý.
Trong đó, khách hàng được thống kê theo các nhóm rủi ro thấp, trung bình, cao; khách hàng cư trú, không cư trú; người có ảnh hưởng chính trị; khách hàng VIP, khách hàng ưu tiên. Đối với khách hàng tổ chức, dự thảo cũng đề cập một số ngành, lĩnh vực cụ thể như dịch vụ chuyển tiền, kinh doanh ngoại tệ, bất động sản, kim loại quý, đá quý, ngân hàng đại lý và tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa.
Với sản phẩm và kênh giao dịch, dữ liệu được phân theo tiền gửi, tài trợ thương mại, chuyển tiền điện tử, thu đổi ngoại tệ, sản phẩm đầu tư; giao dịch tại quầy, giao dịch điện tử từ xa, ATM và các kênh khác. Dữ liệu về khách hàng và giao dịch có liên quan đến quốc gia, vùng lãnh thổ có rủi ro cao cũng được đưa vào phạm vi theo dõi.
Trên cơ sở các thông tin này, đối tượng giám sát dự kiến được phân loại theo ba mức rủi ro thấp, trung bình và cao. Kết quả chấm điểm không chỉ phục vụ việc nhận diện rủi ro mà còn được sử dụng để xác định đối tượng, tần suất, nội dung, quy mô giám sát, kiểm tra và phân bổ nguồn lực phù hợp.
Tin liên quan
Tin khác
Bộ Công an và Ngân hàng Nhà nước: Tăng cường phối hợp phòng, chống tài trợ khủng bố
Khánh Hòa chấn chỉnh hoạt động mua bán ngoại tệ trái phép
Ngân hàng gia cố “lá chắn” bảo vệ khách hàng trong thanh toán số
Tăng cường năng lực phòng, chống rửa tiền trong quản lý tài sản mã hóa
Sửa đổi Luật Phòng, chống rửa tiền 2022: Đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và thực hiện cam kết quốc tế
Nhận diện giao dịch đáng ngờ liên quan đến buôn bán trái phép động vật hoang dã
Kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố giai đoạn 2026-2030
Cảnh báo nguy cơ bị lợi dụng rửa tiền trong thị trường kim khí quý, đá quý



