Philippines, Indonesia và Ấn Độ gặp khó vì Fed

08:36 | 25/08/2017

Các nhà lãnh đạo của Ấn Độ, Indonesia và Philippines hiện nay đã thắng cử với những lời cam kết sẽ đầu tư lớn để nâng cấp các tuyến đường bộ, đường sắt và hệ thống cầu cảng với niềm tin rằng cách làm như vậy sẽ giúp tăng tốc tăng trưởng kinh tế phỏng theo sự thành công của Trung Quốc.

Yellen, Draghi đến với Jackson Hole với nỗi lo lạm phát yếu
Fed vẫn muốn tiếp tục tăng lãi suất do lo ngại bất ổn định tài chính

Đầu tư mạnh cho hạ tầng

Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi dự định sẽ dành khoản đầu tư kỷ lục 60 tỷ USD đầu tư cho cơ sở hạ tầng (CSHT) trong năm tài chính này. Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte đã đặt ra mục tiêu chi 7% GDP cho CSHT, trong khi nhà lãnh đạo Indonesia Joko Widodo vào tuần trước đã tuyên bố sẽ đưa thêm 7.000 km đường và bốn sân bay mới vào đầu tư.

Fed thắt chặt chính sách có thể khiến nhiều nước mới nổi muốn dựa vào dòng vốn bên ngoài để đầu tư phải tính toán kỹ

Trong bối cảnh tìm kiếm lợi nhuận trên toàn cầu trong thời điểm này không còn dễ dàng, đầu tư nước ngoài đã đổ vào để đáp ứng nhu cầu vốn cho các tham vọng trên - những nước có dân số trẻ và đang có được tốc độ tăng trưởng kinh tế thuộc hàng nhanh nhất thế giới.

Nhưng khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã lên kế hoạch bắt đầu thu hẹp bảng cân đối tài sản 4,5 nghìn tỷ USD và một nước Mỹ dưới thời Donald Trump đang muốn kéo các DN Mỹ cũng như các nước khác về để sản xuất và tạo việc làm trên đất Mỹ thì vấn đề mà ba quốc gia này đang phải đối mặt là họ thiếu các cơ sở công nghiệp, xuất khẩu và tiết kiệm trong nước cần thiết để có thể tài trợ cho các kế hoạch đầu tư CSHT của mình trong trường hợp các NĐT nước ngoài rút vốn.

Để đào móng và đổ xi măng cho các công trình hạ tầng, 3 nước sẽ phải nhập khẩu nhiều thiết bị hạng nặng. Điều này làm suy yếu tài khoản vãng lai và chi phí lớn để triển khai các dự án CSHT khổng lồ đó cũng gây áp lực lên thâm hụt ngân sách, khiến chính phủ các nước này sẽ phải phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn ngoại tệ.

“Việc thúc đẩy đầu tư vào CSHT tại các thị trường lớn ở châu Á này có thể sẽ khiến thâm hụt tài khoản vãng lai và nợ nước ngoài gia tăng. Và tùy thuộc vào hình thức tài trợ vốn bên ngoài, các thị trường mới nổi này có thể trở nên nhạy cảm hơn với những dòng vốn nước ngoài biến động và rủi ro mất cân đối tiền tệ”, ông Chua Hak Bin, chuyên gia kinh tế cao cấp tại Maybank của Kim Eng Research nhận định.

Thực tế đã có những dấu hiệu của sự căng thẳng và rủi ro trên thị trường ngoại hối. Đồng peso của Philippines đã giảm hơn 3% so với đồng bạc xanh (USD) và cũng là nước có đồng nội tệ hoạt động kém nhất ở châu Á cho đến thời điểm này của năm nay. Đồng Rupee của Ấn Độ có mức tệ hại đứng thứ hai trong khi đồng Rupiah của Indonesia diễn biến tích cực hơn.

Và những rủi ro chính sách

Hiện các thống đốc NHTW của những nước hàng đầu thế giới đang bắt đầu nhóm họp tại

Jackson Hole ở Wyoming, Mỹ (từ 24-26/8). Nếu có bất kỳ nhận định nào nói về việc một khả năng “bình thường hóa” nhanh hơn so dự đoán ở các nước đã phát triển thì cũng đều có thể tác động tâm lý của các NĐT nước ngoài.

“Nếu so sánh với các thị trường mới nổi khác như: Brazil, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ và Nga, thì các nền kinh tế Ấn Độ, Indonesia và Philippines có vẻ đang ở trạng thái tốt hơn. Nhưng các nhà hoạch định chính sách cũng nhận thức được rủi ro của khả năng các dòng vốn đầu tư bị rút đi, điều này lý giải tại sao họ đang tiếp tục tăng dự trữ ngoại tệ”, ông Rob

Subbaraman, chuyên gia kinh tế trưởng khu vực châu Á trừ Nhật Bản của Nomura Holdings nhận định và cho biết, không phải tất cả các khoản thâm hụt đều là xấu, đặc biệt là nếu các khoản tài trợ vốn ấy là để cho các mục đích sản xuất, vì điều đó sẽ giúp thu hút thêm nhiều đầu tư hơn và giúp thúc đẩy tăng trưởng.

Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ước tính, từ nay tới năm 2030, các nền kinh tế mới nổi trong khu vực cần phải đầu tư tới 26 nghìn tỷ USD để xây dựng các mạng lưới vận tải, tăng nguồn cung cấp điện và nâng cấp các hệ thống nước và vệ sinh môi trường.

So với các tiêu chuẩn toàn cầu, hiện mức nợ của các nước này vẫn còn thấp. Nên ít nhất thì cho đến hiện tại, các NĐT nước ngoài tiếp tục kỳ vọng mức tăng trưởng sẽ trên 5% ở các nền kinh tế này. Nhưng điều này phần lớn sẽ phụ thuộc vào diễn biến của đồng USD. “Nếu đồng USD vẫn ở trạng thái yếu thì sẽ không có lý do gì đáng lo ngại. Ngay cả khi đồng bạc xanh mạnh lên, cả 3 nước đều có khả năng tăng lãi suất để giữ cho vốn nước ngoài chảy ra”, bà Alicia Garcia Herrero, chuyên gia kinh tế hàng đầu của Natixis dự báo.

Nhưng chuyên gia này cũng cho rằng, các vấn đề nan giải trong hệ thống ngân hàng và một đồng tiền mạnh hơn làm cho Ấn Độ là nước có khả năng lớn nhất trong việc sẽ phải thắt chặt chính sách, tiếp theo sau là Indonesia. Trong khi đó, việc đồng Peso yếu đi trong thời gian vừa qua giúp Philippines “dễ thở” hơn. Chuyên gia này cũng nhận định, mặc dù nguy cơ dòng vốn vào bị gián đoạn không cao nhưng khả năng Fed bắt đầu triển khai tiến trình giảm bớt bảng cân đối tài sản thì rất khó để lường trước được tác động.

Theo đánh giá của Moody's Investor Service, hiện mức nợ của chính phủ Ấn Độ cao hơn "đáng kể" so với các quốc gia có cùng xếp hạng. Trong khi chính phủ liên bang nước này đặt mục tiêu giảm thâm hụt ngân sách về mức 3,2% GDP trong năm tài khóa này (từ mức 3,5% của năm ngoái) nhưng theo cố vấn kinh tế của chính phủ nước này thì triển vọng đó là khó khăn do tăng trưởng kinh tế chậm hơn và sự không chắc chắn của chính sách.

Bên cạnh đó, Ấn Độ cũng đối mặt với nguy cơ thâm hụt tài khoản vãng lai (mà theo dự báo của IMF thì sẽ ở mức lớn nhất kể từ năm 2013) khi Fed phát đi các dấu hiệu thắt chặt. Theo dữ liệu của Bloomberg, các khoản nợ trái phiếu và cho vay hợp vốn của các công ty Ấn Độ đã đến mức kỷ lục gần 2 tỷ USD cho đến thời điểm này của năm nay, so với mức chỉ 494 triệu USD cho cả năm 2016.

“Chúng tôi cho rằng, chương trình cắt giảm bớt bảng tài sản của Fed có thể ảnh hưởng đến dòng chảy vốn ở các nền kinh tế mới nổi trong đó có Ấn Độ”, Kaushik Das, chuyên gia kinh tế tại Deutsche Bank AG, bình luận.

Tại Jakarta, Tổng thống Widodo đã đặt CSHT là nền tảng ưu tiên trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình ông, nhưng tất nhiên đi cùng với đó là chi phí. Chính phủ nước này dự báo thâm hụt ngân sách năm 2017 sẽ tăng lên mức 2,9% GDP, sát với trần thâm hụt 3% đặt ra. Trong khi đó, thâm hụt tài khoản vãng lai cũng đã tăng lên, đạt mức 5 tỷ USD, tương đương 1,96% GDP trong quý II vừa qua. Trong khi đó, kinh tế

Indonesia dự báo sẽ tăng trưởng ở mức 5,4% trong năm tới (và nếu đạt được thì đây sẽ là tốc độ nhanh nhất kể từ năm 2013), thấp hơn khá xa so với mục tiêu 7% mà ông Widodo đặt ra khi lên nắm quyền cách đây 3 năm.

Philippines cũng gặp phải các vấn đề tương tự. NHTW của nước này dự báo, nền kinh tế sẽ lần đầu tiên trong 15 năm trở lại đây lâm vào thâm hụt tài khoản vãng lai trong năm 2017. Kế hoạch tăng thuế của Tổng thống Duterte nhằm có nguồn tài trợ vốn cho chương trình CSHT đang bị chậm trễ đáng kể vì các nhà lập pháp lo lắng về khả năng phản ứng dữ dội từ cử tri. Bộ Tài chính nước này cảnh báo, nếu các nhà lập pháp thay đổi kế hoạch cải cách thuế của chính phủ thì các rủi ro đặt ra là nguy cơ tăng trưởng chậm hơn và sẽ bị các tổ chức xếp hạng hạ bậc tín nhiệm.

Hồng Quân

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,80
-
4,90
7,40
-
8,00
8,10
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.710 24.020 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.725 24.015 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.710 24.010 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.720 24.030 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.740 24.000 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.700 24.050 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.733 24.028 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.725 24.017 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.730 24.100 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.760 24.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.400
66.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.400
66.400
Vàng SJC 5c
65.400
66.420
Vàng nhẫn 9999
52.400
53.400
Vàng nữ trang 9999
52.200
53.000