Phó Thống đốc: Cho vay BOT giao thông dài hạn, vốn lớn, ngân hàng phải rất cân đối

15:03 | 01/10/2019

Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú cho biết, với dự án BOT giao thông, trách nhiệm của hệ thống ngân hàng vẫn sẽ quan tâm và cố gắng trong điều kiện, khả năng cho phép, đảm bảo an toàn, hiệu quả cho các tổ chức tín dụng.

Điều hành CSTT 9 tháng: Góp phần kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng
Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú trả lời một số câu hỏi của báo chí - Ảnh: Hoàng Giáp

Cho vay các dự án BOT với trách nhiệm chính trị rất lớn

Tại buổi họp báo về kết quả điều hành chính sách tiền tệ, hoạt động ngân hàng Quý III/2019 và định hướng nhiệm vụ những tháng tiếp theo năm 2019 do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tổ chức sáng 1/10, Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú đã trả lời báo chí một số câu hỏi liên quan đến cho vay các dự án BOT giao thông, lãi suất, tín dụng…

Chia sẻ với báo chí về khả năng cung ứng vốn của hệ thống ngân hàng với dự án cao tốc Bắc – Nam và các dự án hạ tầng giao thông khác trong thời gian tới, Phó Thống đốc Đào Minh Tú cho biết, vấn đề đường giao thông theo hình thức BOT đang nhận được sự quan tâm của người dân nhất là dự án Trung Lương – Mỹ Thuận ở phía Nam.

Tại miền Bắc, Phó Thống đốc chia sẻ: mới đây dự án cao tốc Bắc Giang lên Chi Lăng (Lạng Sơn) đã thông tuyến rồi, còn đoạn từ Chi Lăng lên cửa khẩu Hữu nghị dự kiến cần trên 8.000 tỷ đồng; Cao Bằng thì đề xuất con đường từ Đồng Đăng đến Trà Lĩnh dự kiến trên 20.000 tỷ đồng; Cao tốc từ Hòa Bình đi Mộc Châu (Sơn La) dự kiến cần khoảng trên 20.000 tỷ đồng… Trong khi đó, Chính phủ cũng có quyết định việc làm đường cao tốc Bắc - Nam chủ yếu do các nhà thầu trong nước thực hiện triển khai và vấn đề vốn tín dụng của các NHTM cũng được đặt ra. Điểm qua sơ bộ những dự án trên để thấy vốn tín dụng cho BOT là rất lớn.

“Hôm qua, tại Lạng Sơn, thay mặt NHNN tôi đã báo cáo với Thủ tướng và các Bộ, ngành, thực hiện tham gia các dự án BOT giao thông là một trong những quyết tâm cao của các NHTM và trách nhiệm chính trị rất lớn”, Phó Thống đốc chia sẻ.

Tuy nhiên, theo Phó Thống đốc, thực tế với hoạt động ngân hàng thì huy động vốn ngắn hạn vẫn là chủ yếu trong khi cho vay các dự án BOT giao thông là trung và dài hạn phải từ 15-20 năm, số lượng vốn lại rất lớn tới hàng nghìn tỷ đồng chứ không phải vài chục tỷ đồng nên các NHTM phải rất cân đối.

Bên cạnh đó, khi cho vay các NHTM còn phải dựa trên các chỉ số an toàn trong hoạt động ngân hàng như không được vượt quá 15% vốn tự có với một đơn vị vay, hệ số an toàn vốn (CAR) cũng được đặt ra… 

Ngoài BOT giao thông, hệ thống ngân hàng còn phải cung ứng vốn cho các lĩnh vực ưu tiên trong sản xuất kinh doanh, phục vụ tăng trưởng kinh tế.

“Với BOT, trách nhiệm của hệ thống ngân hàng vẫn sẽ quan tâm và cố gắng trong điều kiện, khả năng cho phép đảm bảo an toàn, hiệu quả cho các tổ chức tín dụng”, Phó Thống đốc nhấn mạnh.

Ngoài vấn đề nguồn vốn thì các bộ, ngành cũng phải làm rõ các chính sách liên quan đến BOT để không gây ra rủi ro như vấn đề thu phí BOT, vấn đề đặt trạm thu phí… nó tác động trực tiếp tới nhà đầu tư xây dựng, đi cùng đó là những khoản vay của hệ thống NHTM.

Tiếp tục ổn định mặt bằng lãi suất

Trả lời câu hỏi của phóng viên về việc sau gần 1 tháng giảm lãi suất điều hành, NHNN nhận định thế nào về diễn biến lãi suất từ nay tới cuối năm, Phó Thống đốc Đào Minh Tú khẳng định: Nhìn chung lãi suất hiện nay và qua việc tổ chức hội nghị kết nối ngân hàng – doanh ngiệp tại 4 thành phố lớn Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ thì hầu hết các doanh nghiệp tham dự không đặt ra vấn đề lãi suất nhiều.

Việc NHNN giảm lãi suất điều hành từ 16/9/2019 là để đưa ra thông điệp nền kinh tế ổn định, tạo yếu tố tâm lý cho doanh nghiệp và thị trường.

“Chủ trương thời gian tới của NHNN là tiếp tục ổn định mặt bằng lãi suất, việc tăng là không có”, Phó Thống đốc nhấn mạnh và cho rằng, việc giảm lãi suất cho cụ thể đối tượng nào, doanh nghiệp nào là tùy thuộc vào quan hệ tín dụng của đơn vị đó với NHTM. Riêng cho vay với 5 đối tượng ưu tiên đã có quy định cứng là không được vượt quá 6,5%/năm.

Theo Phó Thống đốc, trên thực tế hiện nay cũng nhiều gói tín dụng NHTM đưa ra lãi suất rất thấp, hoặc những trường hợp quan hệ tín dụng rất tốt và thậm chí ngân hàng theo được dòng tiền nên không phải chi phí cho vấn đề liên quan đến tài sản thế chấp thì ngân hàng sẵn sàng giảm lãi suất.

Còn từ nay tới cuối năm quan điểm điều hành của NHNN là tiếp tục giữ ổn định mặt bằng lãi suất, còn giảm lãi suất được hay không thì còn phụ thuộc vào các chỉ số kinh tố vĩ mô. “Đặc biệt, đến đầu năm 2020, trên cơ sở định hướng chủ trương kinh tế vĩ mô thế nào thì NHNN sẽ có chính sách điều hành phù hợp tiếp theo”, Phó Thống đốc Đào Minh Tú nhấn mạnh.

Chí Kiên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950