PMI thấp xuống tháng thứ hai liên tiếp, chỉ còn 50,6 điểm trong tháng 1/2020

09:40 | 03/02/2020

Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) ngành sản xuất của Việt Nam vừa được công ty cung cấp dữ liệu thị trường toàn cầu IHS Markit công bố, cho thấy xu hướng mất điểm vẫn tiếp diễn trong tháng đầu năm 2020.

“Tháng đầu năm 2020 đã chứng kiến sự cải thiện khiêm tốn về các điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất Việt Nam. Số lượng đơn đặt hàng mới tiếp tục tăng với tốc độ vừa phải, nhưng sản lượng đã giảm và số lượng nhân công chỉ tăng nhẹ. Tốc độ tăng chi phí đầu vào đã lấy lại được đà tăng nhưng vẫn còn thấp, trong khi giá cả đầu ra tăng nhẹ tháng thứ hai liên tiếp,” báo cáo của IHS Markit khái quát.

PMI tháng 1 đạt 50,6 điểm

Tuy nhiên, PMI của ngành sản xuất Việt Nam trong tháng 1 vẫn ở mức cao hơn ngưỡng không thay đổi 50 điểm khi đạt mức 50,6 điểm sau khi đạt 50,8 điểm trong tháng 12 năm ngoái.

pmi thap xuong thang thu hai lien tiep chi con 506 diem trong thang 12020

“Chỉ số này cho thấy sức khỏe của lĩnh vực sản xuất vào đầu năm 2020 tiếp tục cải thiện ở mức khiêm tốn”, báo cáo đánh giá.

Nhân tố hỗ trợ cải thiện các điều kiện kinh doanh tổng thể là số lượng đơn đặt hàng mới tiếp tục tăng ở mức vừa phải. Trong khi đó, số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới tăng trở lại sau khi giảm nhẹ trong tháng 12.

Nhưng mặc dù số lượng đơn đặt hàng mới tiếp tục tăng, sản lượng ngành sản xuất giảm trong tháng 1. Sản lượng đã giảm bốn tháng trong năm tháng qua, nhưng tốc độ giảm vẫn là nhẹ.

“Sự kết hợp của số lượng đơn đặt hàng mới tăng và sản lượng giảm đã làm cho một số công ty sử dụng hàng tồn kho thành phẩm để đáp ứng các đơn đặt hàng mới. Kết quả là, hàng tồn kho sau sản xuất đã giảm với tốc độ nhanh nhất trong ba tháng”, theo IHS Markit.

Mặc dù vậy, các công ty vẫn báo cáo tăng lượng công việc tồn đọng. Đây là lần tăng thứ năm trong năm tháng, mặc dù chỉ là nhẹ.

Số lượng nhân công tăng nhẹ trong tháng 1, với tốc độ tạo việc làm là chậm nhất trong thời kỳ tăng việc làm kéo dài ba tháng gần đây.

Các nhà sản xuất đã mở rộng hoạt động mua hàng với tốc độ nhanh hơn một chút trong tháng 1. Mặc dù mua hàng đầu vào tăng, tồn kho hàng mua hầu như không thay đổi khi một số người trả lời khảo sát hạn chế hàng tồn kho tương ứng với nhu cầu sản lượng thấp hơn.

Giá cả đầu vào tăng với tốc độ nhanh nhất trong tám tháng, mặc dù mức tăng là vẫn chậm. Chi phí hàng hoá nhập khẩu tăng và tình trạng khan hiếm nguồn cung được cho là nguyên nhân cho lần tăng mới đây.

Những vấn đề về nguồn cung nguyên vật liệu cũng góp phần làm kéo dài thời gian giao hàng của nhà cung cấp lần thứ hai liên tiếp, mặc dù mức độ chỉ là nhỏ.

Với chi phí đầu vào tăng, các công ty đã tăng giá cả đầu ra tương ứng. Giá bán hàng tăng được ghi nhận tháng thứ hai liên tiếp, với mức tăng khiêm tốn gần như ngang bằng với mức tăng trong tháng 12.

Đáng chú ý, mức độ lạc quan về triển vọng sản xuất 12 tháng vào đầu năm đã cải thiện và là mức cao nhất trong ba tháng. Thái độ tích cực chủ yếu phản ánh dự đoán số lượng đơn đặt hàng mới tăng và việc đưa ra các sản phẩm mới.

“Chỉ số PMI mới nhất của Việt Nam tiếp tục cho thấy những tin tức tích cực về số lượng đơn đặt hàng mới ngành sản xuất. Mặc dù vậy, các công ty có vẻ như có mức tăng sản lượng bị chững lại, từ đó họ muốn sử dụng hàng tồn kho để đáp ứng các đơn đặt hàng của khách hàng. Tuy nhiên, tình trạng này dường như sẽ thay đổi sớm nếu số lượng đơn đặt hàng mới tiếp tục nằm trong kênh tăng”, Andrew Harker, Phó Giám đốc tại IHS Markit, bình luận về dữ liệu khảo sát PMI ngành sản xuất Việt Nam.

“Lĩnh vực sản xuất của Việt Nam có vẻ như sẵn sàng tiếp tục là ngôi sao tăng trưởng trong năm 2020, từ đó giúp hỗ trợ tăng trưởng ấn tượng trong toàn bộ nền kinh tế. IHS Markit dự báo sản xuất công nghiệp tăng 7,9% trong năm 2020”, Andrew Harker nói thêm.

PMI lĩnh vực sản xuất ASEAN vẫn dưới 50 điểm

“Lĩnh vực sản xuất ASEAN vẫn khó khăn trong giai đoạn suy thoái vào đầu năm 2020 khi chỉ số PMI cho thấy các điều kiện hoạt động suy giảm tháng thứ tám liên tiếp”, Lewis Cooper, chuyên gia kinh tế tại IHS Markit, nói.

Tuy nhiên, tốc độ giảm là chậm nhất kể từ khi giai đoạn suy thoái gần đây bắt đầu vào tháng 6/2019 và nhìn chung chỉ là nhẹ.

Theo dữ liệu của IHS Markit, chỉ số PMI toàn phần ASEAN đã tăng từ 49,7 điểm trong tháng 12/2019 lên 49,8 điểm trong tháng 1/2020, báo hiệu sức khỏe lĩnh vực sản xuất ASEAN tiếp tục suy giảm - mức điểm sát với 50 nhất trong thời kỳ suy giảm kéo dài tám tháng gầy đây.

pmi thap xuong thang thu hai lien tiep chi con 506 diem trong thang 12020

Sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới tăng góp phần làm tăng kết quả chỉ số PMI, với sản lượng tăng lần đầu tiên kể từ tháng 6 trong bối cảnh số lượng đơn đặt hàng mới tăng liên tục.

Tuy nhiên, nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số là số lượng nhân công tiếp tục giảm, tồn kho hàng hóa đầu vào giảm với tốc độ nhanh nhất kể từ tháng 10 năm ngoái, và thời gian giao hàng của nhà cung cấp đã được cải thiện nhẹ.

Với từng nước, Myanmar có kết quả hoạt động tốt nhất trong số bảy quốc gia được khảo sát, như đã diễn ra trong suốt 12 tháng qua. Chỉ số toàn phần của Myanmar (52,7 điểm) cho thấy các điều kiện hoạt động cải thiện mạnh mẽ sau khi mất đà tăng vào tháng 12.

Philippines cũng ghi nhận có tăng trưởng khi chỉ số toàn phần (52,1 điểm) đạt mức cao nhất kể từ tháng 1/2019, từ đó báo hiệu sức khỏe của lĩnh vực sản xuất cải thiện ở mức vừa phải dưới tác động của số lượng đơn đặt hàng mới tăng mạnh.

Trong khi đó, Việt Nam dù có tháng thứ ba liên tiếp cải thiện điều kiện hoạt động trong tháng 1 nhưng chỉ số toàn phần (50,6 điểm) cho thấy mức tăng trưởng chỉ là nhẹ và là thấp nhất trong vòng sáu năm qua.

Các điều kiện sản xuất ở Thái lan gần như đình trệ vào đầu năm, với chỉ số toàn phần giảm còn 49,9 điểm trong tháng 1.

Indonesia tiếp tục suy thoái tháng thứ bảy liên tiếp, mặc dù chỉ số toàn phần (49,3 điểm) cho thấy tốc độ giảm chỉ là nhẹ.

Trong khi đó, Singapore có các điều kiện hoạt động tiếp tục suy giảm trong tháng 1, mặc dù tốc độ giảm là chậm nhất trong thời kỳ 18 tháng gần đây (chỉ số toàn phần là 49,2 điểm), cho thấy sức khỏe của lĩnh vực sản xuất chỉ suy giảm nhẹ.

Malaysia có tốc độ suy giảm mạnh nhất trong bảy quốc gia khảo sát. Chỉ số toàn phần (48,8 điểm) là thấp nhất kể từ tháng 9/2019, mặc dù nó chỉ cho thấy một tốc độ suy giảm nhẹ.

“Nhìn chung, dữ liệu tháng 1 cho thấy kết quả hoạt động giảm sút của lĩnh vực sản xuất ASEAN. Tuy nhiên, có một số dấu hiệu cho thấy triển vọng tốt lên, với sản lượng tăng lần đầu tiên trong bảy tháng và số lượng đơn đặt hàng mới tăng liên tục”, theo IHS Markit.

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.310 24.601 25.725 29.563 30.187 201,88 211,10
BIDV 23.170 23.310 24.945 25.709 29.697 30.302 203,03 210,54
VietinBank 23.174 23.324 24.860 25.695 29.626 30.266 206,86 211,86
Agribank 23.180 23.285 24.944 25.354 29.957 30.471 209,00 212,98
Eximbank 23.170 23.300 24.874 25.239 29.748 30.185 207,03 210,07
ACB 23.170 23.300 24.879 25.233 29.830 30.177 207,00 209,94
Sacombank 23.149 23.311 24.891 25.346 29.813 30.218 206,32 210,89
Techcombank 23.155 23.315 24.646 25.608 29.435 30.381 205,75 212,50
LienVietPostBank 23.170 23.290 24.813 25.297 29.980 30.450 209,17 213,23
DongA Bank 23.190 23.280 24.930 25.250 29.790 30.180 204,00 209,70
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.300
48.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.300
48.200
Vàng SJC 5c
47.300
48.220
Vàng nhẫn 9999
47.000
48.000
Vàng nữ trang 9999
46.700
48.000