Sức ép và bàn đạp

09:20 | 13/01/2017

WTO đã tạo sức ép để Việt Nam chuyển dần từ phương thức quản lý Nhà nước can thiệp hành chính sang phương thức quản lý Nhà nước kiến tạo, tôn trọng quyền tự do kinh doanh.

Để không bị lỡ chuyến tàu WTO
Phê chuẩn Nghị định thư sửa đổi WTO: Việt Nam hưởng lợi nhiều hơn
Thấy gì sau khi gia nhập WTO

10 năm sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nền kinh tế Việt Nam đã tự nhận diện được chính mình một cách rõ nét hơn, cả dưới góc độ các lợi thế cạnh tranh cũng như điểm nghẽn của quá trình phát triển. Qua chặng đường dài 1 thập kỷ và đứng trước thời cơ hội nhập sâu rộng hơn, đây là thời điểm cần đánh giá lại về những mặt tích cực và hạn chế của nền kinh tế để hoạch định những bước đi tiếp theo.

Kiểm chứng năng lực cạnh tranh qua 10 năm WTO

Dưới góc độ lợi thế cạnh tranh, con số tăng trưởng xuất khẩu sau 10 năm gia nhập WTO có lẽ chính là minh chứng rõ nét hơn cả. Đây là điều mà  TS. Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội dẫn ra đầu tiên khi đánh giá về sự bật lên của cả nền kinh tế. Theo ông Kiên, xét về tỷ trọng xuất khẩu hàng hoá từ khi Việt Nam là thành viên của WTO đến nay, có thể đánh giá là tương đối thành công.

Đến năm 2015, cả kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam đã chiếm tỷ trọng khoảng 0,7-0,8% so với kim ngạch tương ứng của thương mại toàn cầu. Đặc biệt từ khi gia nhập WTO, mức tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam đều đạt khoảng 12-14%/năm trong cả một thời gian dài. Những số liệu mới nhất đã cho thấy rõ hơn điều này. Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu năm 2016 ước tính đạt 175,9 tỷ USD, tăng gấp 3,5 lần so với con số tương ứng 50 tỷ USD trong năm 2006.

Hội nhập giúp Việt Nam tận dụng tốt lợi thế so sánh

Xét về cơ cấu hàng xuất khẩu, tỷ trọng hàng thông qua chế biến ở giai đoạn này ngày càng tăng. Nếu vào thời điểm 2005, tỷ trọng hàng thô hay sơ chế chiếm khoảng 51% thì hiện nay con số này giảm xuống còn 23%. Những mặt hàng đã qua chế biến từ sơ chế tới chế biến sâu đạt tới 77%. Đó là hướng thay đổi cơ cấu tích cực, cho thấy nền sản xuất trong nước chuyển biến vững chắc hơn.

Còn với TS. Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), điều mà ông tâm đắc nhất là WTO đã làm thay đổi diện mạo khung khổ pháp lý, thể chế chính sách về kinh tế, thương mại, đầu tư, cũng như phương thức quản lý kinh tế của Việt Nam. Ông Lộc cho biết, trong 2 năm liền trước và liền sau thời điểm gia nhập WTO là 2006 - 2007, Việt Nam đã sửa trên 60 văn bản luật để thực thi cam kết. Cùng với đó, hàng trăm nghị định, thông tư hướng dẫn cũng đã được sửa đổi. Trước đó, vào năm 2005, lần đầu tiên Việt Nam có Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư áp dụng chung cho DN thuộc mọi thành phần kinh tế.

“WTO đã tạo sức ép để Việt Nam chuyển dần từ phương thức quản lý Nhà nước can thiệp hành chính sang phương thức quản lý Nhà nước kiến tạo, tôn trọng quyền tự do kinh doanh”, ông Lộc nói.

Kết quả là năm 2007 đã mở màn cho sự bừng nở mới của khu vực DN tư nhân Việt Nam, với kỷ lục gần 60.000 DN thành lập mới trong năm. Và sau 10 năm, thì trong năm 2016 vừa qua, phát triển DN đã thiết lập một kỷ lục còn ấn tượng hơn, với hơn 100.000 DN thành lập mới. Phát triển DN đã tăng ngoạn mục so với nhiều năm qua cả về số lượng, quy mô DN, vốn đầu tư…

Môi trường đầu tư đã thuận lợi cho cả DN trong nước và nước ngoài. TS. Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài nhớ lại, sau khi bước qua ngưỡng cửa hội nhập WTO vào năm 2007, dòng vốn FDI đã bắt đầu thời kỳ tăng trưởng cao. Số vốn thu hút ngay lập tức tăng vọt từ mức 15 tỷ USD của năm 2006 lên hơn 21 tỷ USD, tăng 77,8% so với năm trước. Và ngay sau đó, năm  2008, vốn FDI đạt 71 tỷ USD, thiết lập kỷ lục chưa từng bị phá vỡ.

Cần bước ngoặt để bộc lộ lợi thế

Nói khái quát lại, WTO đã làm bộc lộ rõ những nét cơ bản, đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam, định hình được cách làm chính sách và thực thi chính sách của Việt Nam. Tuy nhiên, xét trong 2 góc độ tích cực và tiêu cực của nền kinh tế, thì theo đánh giá của các chuyên gia, khía cạnh yếu kém có vẻ đang bộc lộ rõ và nhiều hơn cả. “Đó là bài học dù có thể đau nhưng rất nghiêm túc cho Việt Nam”, chuyên gia kinh tế, TS. Võ Trí Thành nhận xét.

Theo ông Thành, sự hứng khởi quá đà sau khi gia nhập WTO đã khiến việc hoạch định chính sách có thời điểm tập trung dồn vào tăng trưởng, bất chấp hiệu quả. Bởi suốt một thời kỳ, tăng trưởng chủ yếu là sự bành trướng đầu tư và mức đầu tư rất cao. Điều này đã khiến chúng ta xao nhãng, thiếu sự chuẩn bị và đối phó tốt hơn với biến động của kinh tế vĩ mô.

Kết quả là cho đến năm 2011, sau 5 năm gia nhập WTO, kinh tế Việt Nam rất bất ổn, các cân đối lớn như ngân sách, thương mại, cán cân thanh toán quốc tế, tiết kiệm và đầu tư… méo mó, nền kinh tế rất dễ bị tổn thương trước các cú sốc bên trong hay bên ngoài nước. Hậu quả là 5 năm vừa rồi chúng ta phải chữa cháy, tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, trả giá cho sự hứng khởi quá đà trong thời kỳ đầu hội nhập.

Vấn đề thứ 2 là thu hút đầu tư. Bên cạnh đầu tư Nhà nước bành trướng, hiệu quả chưa cao thì thu hút FDI ở nhiều nơi cũng chạy theo thành tích để thu hút FDI bằng mọi giá mà xao nhãng, thậm chí quên đi vấn đề phát triển bền vững và tác động lan toả của FDI đối với nền kinh tế, đối với DN trong nước.

Vấn đề thứ 3, theo ông Thành, hội nhập và tự do hoá đã giúp Việt Nam tận dụng tốt hơn lợi thế so sánh vốn có của mình để đẩy xuất khẩu tăng mạnh. Đó là tập trung phát triển các ngành nghề có lợi thế về nhân công, kỹ năng chưa cao, giá tương đối rẻ, hay một số lĩnh vực do điều kiện tự nhiên tạo ra lợi thế, như nông nghiệp. Tuy nhiên, việc chuyển từ lợi thế tĩnh sang lợi thế tạo giá trị gia tăng cao hơn, năng lực sản xuất tốt hơn, dựa nhiều hơn vào năng suất thì còn hạn chế.

Những yếu kém của nền kinh tế đang lộ diện nhiều hơn, song theo các chuyên gia, các lợi thế của nền kinh tế cũng chưa được thể hiện hết. Vì vậy, Việt Nam cần có bước ngoặt trong bối cảnh hội nhập sâu sắc hơn song lại rất bất định và rủi ro, trong khi thế giới thay đổi mạnh hơn cả về cách thức kinh doanh, công nghệ, đòi hỏi của thị trường và người tiêu dùng.

Ngọc Khanh

Nguồn:

Tags: WTO

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700