Tận dụng tốt các hiệp định thương mại để thúc đẩy xuất khẩu

13:42 | 04/08/2022

Bộ Công Thương sẽ tiếp tục nghiên cứu các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu thông qua việc hỗ trợ các doanh nghiệp về thông tin thị trường, xúc tiến xuất khẩu, tận dụng các cam kết trong các Hiệp định FTA đã ký kết và thông qua các chuỗi giá trị toàn cầu để tìm kiếm thị trường mới...

tan dung tot cac hiep dinh thuong mai de thuc day xuat khau Thủy sản xuất khẩu cần trợ lực mùa cao điểm
tan dung tot cac hiep dinh thuong mai de thuc day xuat khau Xuất khẩu gỗ đang đối diện với nhiều khó khăn
tan dung tot cac hiep dinh thuong mai de thuc day xuat khau Dệt may Việt Nam: Thúc đẩy liên kết chuỗi mở rộng thị trường xuất khẩu

Bộ Công Thương cho biết, cán cân thương mại hàng hóa tháng 7 ước xuất siêu khoảng 20 triệu USD. Tính chung 7 tháng, cán cân thương mại ước duy trì trạng thái xuất siêu, với khoảng 764 triệu USD (cùng kỳ năm trước nhập siêu 3,31 tỷ USD).

Để đẩy mạnh xuất khẩu trong thời gian tới, Bộ Công Thương cho biết tiếp tục nghiên cứu tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩn, năng lực cạnh tranh và tận dụng tốt các hiệp định thương mại đã ký…

tan dung tot cac hiep dinh thuong mai de thuc day xuat khau

Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải cho biết, xuất khẩu trong tháng 7 giảm 7,7% so với tháng trước, đạt 30,3 tỷ USD, chủ yếu do sự sụt giảm về kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng nông - lâm - thủy sản (giảm 7,4% so với tháng trước, trong đó giảm ở hầu hết các mặt hàng nông sản, trừ rau quả và cao su) và nhóm hàng công nghiệp chế biến chế tạo (giảm 7,2% so với tháng trước, trong đó giảm nhiều nhất là: phân bón các loại, giảm 33,3%; sắt thép các loại, giảm 23,3%; Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, giảm 22,6%).

Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu trong tháng 7 vẫn tăng tới 8,9% so với cùng kỳ. Điểm sáng trong xuất khẩu là xuất khẩu nhóm nhiên liệu khoáng sản tăng 23,5%, chủ yếu do xuất khẩu dầu thô tăng 83% so với tháng trước.

Tính chung 7 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu đã vượt 200 tỷ USD (đạt 216,35 tỷ USD) và tăng tới 16,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực doanh nghiệp trong nước tăng cao (tăng 17%), cao hơn so với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (tăng 15,78%). Điều này tiếp tục cho thấy sự nỗ lực của các doanh nghiệp trong nước trong việc khôi phục sản xuất kinh doanh, nối lại chuỗi cung ứng trong điều kiện dịch bệnh vẫn còn phức tạp.

Đáng nói, kim ngạch xuất khẩu nhóm nông, lâm, thủy sản, đạt 18,23 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 8,4% tổng kim ngạch xuất khẩu, trở thành điểm sáng trong xuất khẩu chung của cả nước. Trong đó, xuất khẩu thủy sản ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng, ước tính đạt 6,6 tỷ USD, tăng 33% so với cùng kỳ năm trước do các thị trường xuất khẩu hiện đều có nhu cầu rất cao đối với thủy sản Việt Nam. Xuất khẩu cà phê đạt 2,58 tỷ USD, tăng 44,8% về trị giá xuất khẩu và tăng 11,8% về lượng so với cùng kỳ năm trước; Xuất khẩu gạo tăng tới 19,9% về lượng và tăng 8,5% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến vẫn tiếp tục đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng trưởng chung của hoạt động xuất khẩu trong 7 tháng với kim ngạch ước đạt 185,8 tỷ USD, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 85,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung.

Nhận định tình hình thời gian tới, Bộ Công Thương cho biết, kinh tế thế giới phục hồi chậm lại, có thể xảy ra suy thoái ngắn hạn, lạm phát có thể tiếp tục cao ở một số nền kinh tế lớn, đi kèm với việc NHTW các nước điều chỉnh chính sách tiền tệ nhanh hơn, tiềm ẩn rủi ro đến ổn định thị trường tài chính, tiền tệ toàn cầu. Xung đột tại Ukraine có thể kéo dài, không chỉ ảnh hưởng đến giá xăng dầu, chi phí vận tải, logistics, chuỗi cung ứng sản xuất, tiêu dùng, mà còn tiềm tàng rủi ro đến ổn định chính trị khu vực, toàn cầu; nguy cơ khủng hoảng an ninh năng lượng, lương thực.

Trong nước, nền kinh tế có khả năng phục hồi nhanh hơn; hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục khởi sắc. Làn sóng chuyển dịch đầu tư để tái cơ cấu chuỗi cung ứng của các tập đoàn nước ngoài với quy mô sản xuất lớn và mạng lưới khách hàng rộng khắp sẽ là động lực mới cho hoạt động xuất nhập khẩu… Tuy nhiên, rủi ro, thách thức còn rất lớn, triển vọng kinh tế thế giới sẽ tiếp tục chịu chi phối bởi chiều hướng của xung đột Nga - Ukraine và điều chỉnh chính sách tài chính - tiền tệ sẽ ảnh hưởng đến nguồn cung và tiêu dùng từ đó ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất và xuất nhập khẩu…

Vì vậy, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới, Bộ Công Thương tiếp tục tập trung đẩy mạnh triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết 01, 02 của Chính phủ và Chương trình phục hồi kinh tế. Bên cạnh đó, tập trung tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, các địa phương phối hợp với bộ làm việc và theo dõi chặt chẽ các dự án, ngành hàng lớn và một số địa bàn trọng điểm để nắm bắt tình hình và xử lý, tháo gỡ khó khăn nhằm đẩy mạnh sản xuất, nhất là các nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào, kiểm soát nhập khẩu và chủ động nguồn cung trong nước thay thế cho nguồn nhập khẩu.

Ngoài ra, Bộ cũng sẽ tiếp tục nghiên cứu các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu thông qua việc hỗ trợ các doanh nghiệp về thông tin thị trường, xúc tiến xuất khẩu, tận dụng các cam kết trong các Hiệp định FTA đã ký kết và thông qua các chuỗi giá trị toàn cầu để tìm kiếm thị trường mới; khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo để tạo ra các sản phẩm mới…

Hương Giang

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,80
-
4,90
7,40
-
8,00
8,10
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.705 24.015 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.735 24.015 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.718 24.018 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.710 24.010 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.740 23.990 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.700 24.050 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.730 24.030 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.728 24.020 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.710 24.080 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.780 24.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
64.700
65.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
64.700
65.700
Vàng SJC 5c
64.700
65.720
Vàng nhẫn 9999
52.250
53.250
Vàng nữ trang 9999
52.050
52.850