Tăng cường phát triển bền vững ngành thủy sản

09:34 | 30/09/2020

Ông Trần Đình Luân, Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản chia sẻ, nhìn lại 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu phát triển kinh tế thủy sản bền vững giai đoạn 2016-2020, dù rằng nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực này còn nhiều hạn chế nhưng kết quả thực hiện đầu tư cơ bản đã đạt được các mục tiêu chương trình đề ra.

tang cuong phat trien ben vung nganh thuy san Thủy sản nhộn nhịp đầu tư mới
tang cuong phat trien ben vung nganh thuy san Doanh nghiệp thủy sản lạc quan vào cuối năm
tang cuong phat trien ben vung nganh thuy san
Lồng bè nuôi trồng thủy sản biển cần được nâng cấp

Cụ thể, về đầu tư cơ sở hạ tầng trong giai đoạn 2016 - 2020, cả nước đã thực hiện đầu tư hoàn thành đối với 148 dự án. Trong đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) triển khai 30 dự án và UBND các tỉnh, thành phố 118 dự án. Tốc độ tăng giá trị sản xuất thủy sản bình quân hàng năm đạt 6% (đạt theo kế hoạch).

Năm 2019, tổng sản lượng thủy sản đạt 8,15 triệu tấn, trong đó khai thác thủy sản đạt 3,77 triệu tấn, nuôi trồng thủy sản đạt 4,38 triệu tấn. Dự kiến năm 2020 đạt 8,2 triệu tấn, vượt mức chỉ tiêu của chương trình đề ra. Giá trị xuất khẩu thủy sản năm 2019 đạt 8,6 tỷ USD, kế hoạch năm 2020 là 10 tỷ USD, vượt chỉ tiêu đề ra.

Cùng với đó, chúng ta cũng đã chủ động sản xuất giống sạch bệnh trong nước đối với các đối tượng chủ lực như tôm giống tôm sú, tôm chân trắng, cá tra; Hình thành các vùng nuôi tập trung thâm canh các đối tượng nuôi chủ lực đạt chứng nhận VietGAP hoặc chứng nhận tương đương GlobalGAP, ASC.BAP. Công suất cảng cá tăng thêm khoảng 352 nghìn tấn hàng qua cảng/năm, công suất neo đậu tăng thêm 24.900 tàu (vượt chỉ tiêu chương trình).

Thời gian qua, ngành thủy sản Việt Nam phát triển nhanh, luôn thuộc nhóm các nước đứng đầu thế giới về giá trị xuất khẩu và đóng góp đáng kể cho quá trình phát triển kinh tế đất nước. Theo đó, năm 2019 thủy sản Việt Nam chiếm 6,2% tổng sản lượng thủy sản châu Á, 4,4% tổng sản lượng và 5,5% giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản toàn cầu. Về giá trị kim ngạch xuất khẩu, thủy sản Việt Nam đứng thứ 3 thế giới, góp phần giải quyết việc làm cho khoảng 3,9 triệu lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn. 

Tuy nhiên, bên cạnh đó, ngành thủy sản cũng đang đối mặt với không ít khó khăn, như vùng neo đậu, luồng lạch bồi lắng không đảm bảo an toàn, vệ sinh an toàn thực phẩm; Thiếu hệ thống xử lý môi trường, hạ tầng không đồng bộ; Công nghệ bốc dỡ, vận chuyển, bảo quản, chế biến sản phẩm khai thác tại các cảng lạc hậu, tổn thất sau thu hoạch vẫn còn cao.

Cùng đó, với chiều dài bờ biển 3.260 km và rộng 1 triệu km2, Việt Nam có đến 500 nghìn km2 nuôi trồng thủy, hải sản biển, có lợi thế rất lớn. Song, việc nuôi trồng hiện nay chỉ ở giai đoạn phôi thai, nuôi gần bờ là chính, hình thức rất sơ sài, đơn giản; Công tác nghiên cứu sản xuất con giống cũng chưa theo quy trình công nghệ cao; Đa số các cơ sở nuôi trồng còn lại vẫn dùng thức ăn tươi, tiềm ẩn gây ô nhiễm môi trường. Để khắc phục những điểm yếu đó, một đề án nuôi trồng đã được đề xuất trong chiến lược phát triển ngành thủy sản đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Theo dự thảo Chiến lược này do Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản (Bộ NN&PTNT) xây dựng, mục tiêu đến năm 2030, kinh tế thủy sản đóng góp 28 - 30% GDP trong cơ cấu ngành nông nghiệp; Tổng sản lượng thủy sản đạt 10 triệu tấn, trong đó sản lượng khai thác thủy sản khoảng 25-30%, sản lượng nuôi trồng thủy sản 70-75%; Giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 18-20 tỷ USD, trong đó xuất khẩu tại chỗ, thông qua du lịch và khách quốc tế khoảng 1,3 tỷ USD. Đồng thời giải quyết việc làm cho 3,5 triệu lao động; thu nhập bình quân đầu người lao động thủy sản tiệm cận mức thu nhập bình quân chung của lao động cả nước; 100% cơ sở sản xuất kinh doanh thủy sản bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm và các quy chuẩn bảo vệ môi trường...

Mục tiêu là đến năm 2045, thủy sản phải là ngành sản xuất hàng hóa lớn có trình độ quản lý, khoa học công nghệ hiện đại, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của các định chế quốc tế, phát triển có trách nhiệm và bền vững; Việt Nam là trung tâm chế biến thủy sản chất lượng cao của khu vực ASEAN và châu Á, thuộc nhóm 3 nước sản xuất và xuất khẩu thủy sản dẫn đầu thế giới…

Để hoàn thiện dự thảo chiến lược, đảm bảo tính thời sự, gắn với thực tế, đưa ngành thủy sản phát triển bền vững trong giai đoạn mới, Bộ NN&PTNT mong tiếp tục nhận được các ý kiến góp ý của các bộ, ngành, địa phương và các chuyên gia, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến khẳng định.

Duy Khánh

Nguồn:

Tags: thủy sản

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.450 22.760 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.480 22.760 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.467 22.767 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.500 22.760 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.520 22.720 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.520 22.720 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.485 22.772 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.500 22.775 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.520 22.720 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.540 22.720 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
61.300
61.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
61.300
61.950
Vàng SJC 5c
61.300
61.970
Vàng nhẫn 9999
52.950
53.650
Vàng nữ trang 9999
52.650
53.350