Tăng trưởng tín dụng song hành với nâng cao năng lực xử lý nợ xấu
| Áp lực nợ xấu đang dần hiện hữu Kết nối dữ liệu, kiến tạo thị trường để tăng tốc xử lý nợ xấu VAMC trước bước ngoặt chiến lược: Từ xử lý nợ xấu đến kiến tạo thị trường mua bán nợ quốc gia |
Mở rộng tín dụng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế
Năm 2026, trong yêu cầu phấn đấu tăng trưởng kinh tế hai con số gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát, tín dụng ngân hàng tiếp tục là một nguồn lực quan trọng cho sản xuất, kinh doanh và đầu tư. Điều này đặt ra yêu cầu vừa bảo đảm cung ứng vốn cho nền kinh tế, vừa kiểm soát chất lượng tín dụng và an toàn hệ thống.
Trong 9 tháng đầu năm, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác. Về lãi suất, NHNN giữ nguyên các mức lãi suất điều hành, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn chi phí thấp; đồng thời yêu cầu các ngân hàng triển khai giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất, tiết giảm chi phí và công khai lãi suất cho vay để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn.
Theo Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà, với các giải pháp đồng bộ, tốc độ tăng lãi suất đang chậm lại và mặt bằng lãi suất về cơ bản đang xoay quanh mặt bằng mới. Đến ngày 20/9/2026, lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,38%/năm, tăng 1,15 điểm phần trăm so với cuối năm 2025.
![]() |
Cùng với điều hành lãi suất, NHNN triển khai nhiều giải pháp tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ tăng trưởng. Nguyên tắc giao tăng trưởng tín dụng năm 2026 được công khai để các tổ chức tín dụng chủ động triển khai; một số khoản tín dụng phục vụ các lĩnh vực, dự án quan trọng được áp dụng cơ chế phù hợp nhằm tạo điều kiện cung ứng vốn. Các chương trình tín dụng đối với nhà ở xã hội, công trình, dự án trọng điểm, các động lực tăng trưởng và doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng tiếp tục được đẩy mạnh.
Đến ngày 30/9/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 20,75 triệu tỷ đồng, tăng 11,59% so với cuối năm 2025 và tăng 16,69% so với cùng kỳ năm trước. Việc mở rộng tín dụng tạo thêm nguồn vốn để doanh nghiệp bổ sung vốn lưu động, thực hiện đơn hàng và triển khai các dự án đầu tư. Tuy nhiên, quy mô tín dụng tăng cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với chất lượng các khoản vay. Hiệu quả của dòng vốn không chỉ phụ thuộc vào khả năng cung ứng tín dụng mà còn vào việc vốn được phân bổ vào đâu, khả năng hấp thụ vốn, hiệu quả sản xuất, kinh doanh và nguồn trả nợ của khách hàng. Bởi vậy, cùng với yêu cầu đáp ứng vốn cho tăng trưởng, kiểm soát chất lượng tín dụng và chủ động xử lý các khoản nợ phát sinh trở thành một phần quan trọng trong việc duy trì sự luân chuyển của nguồn vốn và bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng.
Tăng cả lượng và chất tín dụng, kiểm soát rủi ro nợ xấu phát sinh
Tín dụng tiếp tục mở rộng để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, song yêu cầu đặt ra không chỉ ở tốc độ tăng trưởng mà còn ở chất lượng dòng vốn. Tín dụng tăng không đồng nghĩa nợ xấu sẽ tăng tương ứng mà mức độ rủi ro phụ thuộc vào chất lượng thẩm định, cơ cấu phân bổ vốn, hiệu quả sử dụng vốn cũng như diễn biến của môi trường kinh tế. Khi quy mô tín dụng mở rộng, lượng vốn chịu tác động trước những biến động bất lợi của nền kinh tế cũng lớn hơn. Nếu hoạt động sản xuất, kinh doanh không thuận lợi như dự kiến, một bộ phận khách hàng có thể gặp khó khăn về dòng tiền và khả năng trả nợ, từ đó phát sinh nợ quá hạn, nợ xấu.
Với một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam, hoạt động của doanh nghiệp chịu tác động đáng kể từ thị trường quốc tế, từ nhu cầu hàng hóa, chính sách thương mại đến biến động tỷ giá và giá nguyên vật liệu. Đơn hàng xuất khẩu sụt giảm, chi phí đầu vào tăng hay chuỗi cung ứng gián đoạn đều có thể ảnh hưởng đến doanh thu, lợi nhuận và dòng tiền của doanh nghiệp. Tác động này cũng có thể lan sang các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng trong nước, qua đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn.
Rủi ro không chỉ đến từ bên ngoài. Sức mua trong nước phục hồi chậm, công nợ kéo dài hoặc dự án chậm hoàn thiện thủ tục pháp lý, chậm đưa vào khai thác cũng có thể khiến nguồn thu không hình thành đúng tiến độ, trong khi nghĩa vụ trả nợ vẫn đến hạn. Với những doanh nghiệp sử dụng vốn vay để mở rộng đầu tư, khoảng thời gian từ khi giải ngân đến khi dự án tạo ra doanh thu càng dài, khả năng chống chịu trước những biến động bất lợi càng cần được xem xét thận trọng.
Nếu nguồn vốn mới giúp doanh nghiệp hoàn thành đơn hàng, đưa dự án vào khai thác và nâng cao hiệu quả hoạt động, khả năng trả nợ sẽ được củng cố. Ngược lại, nếu tốc độ giải ngân vượt quá khả năng hấp thụ vốn hoặc năng lực kiểm soát rủi ro, dư nợ có thể tăng trong khi nguồn trả nợ chưa được bảo đảm. Vì vậy, mở rộng tín dụng cần đi cùng với lựa chọn dự án khả thi, giám sát mục đích sử dụng vốn và thường xuyên cập nhật khả năng trả nợ của khách hàng theo diễn biến thực tế.
Lãi suất cũng là một trong những yếu tố tác động đến chi phí tài chính và dòng tiền của khách hàng, bên cạnh doanh thu, chi phí đầu vào, tiến độ dự án và khả năng tiêu thụ sản phẩm. Khi hoạt động kinh doanh thuận lợi, doanh nghiệp có điều kiện thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Ngược lại, khi nguồn thu suy giảm, chi phí vay có thể làm gia tăng áp lực thanh toán. Do đó, rủi ro nợ xấu cần được đánh giá trên tổng thể điều kiện kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn và khả năng tạo nguồn trả nợ của khách hàng.
Một yếu tố khác cần lưu ý là nợ xấu thường có độ trễ so với tăng trưởng tín dụng. Các khoản vay đang trong thời gian đầu tư hoặc ân hạn trả gốc có thể chưa bộc lộ đầy đủ rủi ro. Chỉ khi đến kỳ thanh toán mà doanh thu không đạt kế hoạch, khả năng trả nợ mới suy giảm rõ hơn. Vì vậy, trong quá trình mở rộng tín dụng, cần đồng thời theo dõi chất lượng các khoản vay và chuẩn bị năng lực xử lý đối với những khoản nợ có thể phát sinh trong thời gian tới.
Nếu môi trường kinh tế ổn định, thị trường đầu ra được duy trì và dự án triển khai đúng tiến độ, vốn tín dụng sẽ phát huy hiệu quả và hạn chế nợ xấu phát sinh. Ngược lại, khi hoạt động kinh doanh gặp khó khăn, doanh thu suy giảm hoặc dự án chậm đưa vào khai thác, áp lực nợ xấu có thể gia tăng. Đây là rủi ro cần được chủ động quản lý, thay vì mặc định nợ xấu sẽ tăng cùng với tín dụng. Việc đánh giá cần dựa trên các chỉ tiêu như nợ nhóm 2, các khoản vay được cơ cấu, dòng tiền của khách hàng và nợ xấu phát sinh mới.
Khi nợ xấu gia tăng, ngân hàng phải dành thêm nguồn lực cho xử lý nợ, quản lý tài sản và trích lập dự phòng,qua đó có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận, khả năng bổ sung vốn và dư địa mở rộng tín dụng. Nợ kéo dài còn khiến dự án, nhà xưởng và tài sản bảo đảm chậm được đưa trở lại hoạt động, làm mất cơ hội tạo doanh thu. Vì vậy, xử lý nợ xấu kịp thời cũng góp phần duy trì nguồn lực cho tăng trưởng trong quá trình mở rộng tín dụng.
Xử lý nợ xấu vì thế cần được đặt trong cùng quá trình mở rộng tín dụng phục vụ tăng trưởng. Mục tiêu là thu hồi vốn, khôi phục khả năng khai thác tài sản và hạn chế nguồn lực bị ứ đọng kéo dài trong các khoản nợ, dự án chưa tạo được dòng tiền. Khi vốn được thu hồi và tài sản được đưa trở lại hoạt động, nguồn lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh được bổ sung, đồng thời giảm áp lực lên bảng cân đối của các tổ chức tín dụng.
Trong quá trình này, nâng cao năng lực của VAMC có ý nghĩa quan trọng. Với vai trò đầu mối xử lý nợ chuyên nghiệp, VAMC có thể hỗ trợ các tổ chức tín dụng lựa chọn phương án thu hồi, kết nối nhà đầu tư và phục hồi giá trị tài sản. Việc tăng cường năng lực tài chính, công cụ pháp lý và hạ tầng thị trường sẽ mở rộng khả năng xử lý nợ, hạn chế vốn tồn đọng, hỗ trợ duy trì dòng vốn cho nền kinh tế và góp phần bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng.
Tăng nguồn lực và vai trò VAMC trong giai đoạn mới
Yêu cầu vừa mở rộng tín dụng phục vụ tăng trưởng, vừa chủ động kiểm soát và xử lý rủi ro càng làm rõ vai trò của VAMC trong giai đoạn mới. Các quyết định của Thủ tướng Chính phủ và nghị định của Chính phủ đã xác lập định hướng nâng cao vai trò của VAMC, gắn xử lý nợ xấu với cơ cấu lại tổ chức tín dụng, phục hồi giá trị tài sản và phát triển thị trường mua bán nợ. Qua đó, vị thế, nguồn lực và công cụ hoạt động của VAMC từng bước được củng cố để tham gia sâu hơn vào quá trình xử lý nợ xấu, khơi thông nguồn vốn cho nền kinh tế.
Quyết định số 1413/QĐ-TTg ngày 27/7/2026 xác định phát triển VAMC thành định chế trung tâm trong kiến tạo và phát triển thị trường mua bán nợ, đồng thời tiếp tục là công cụ hiệu quả của Nhà nước trong xử lý nợ xấu và cơ cấu lại tổ chức tín dụng. Theo đó, VAMC được định hướng tăng vốn điều lệ theo chủ trương đã được phê duyệt; hoàn thiện khung pháp lý về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm và mua bán nợ; phát triển Sàn giao dịch nợ thành hạ tầng thị trường quốc gia và hình thành cơ sở dữ liệu nợ xấu, tài sản bảo đảm. Vai trò của VAMC vì thế không chỉ dừng ở mua và thu hồi nợ mà còn mở rộng sang tổ chức thị trường, kết nối các chủ thể và huy động nguồn lực tham gia xử lý nợ.
Tiếp đó, Quyết định số 1809/QĐ-TTg ngày 18/9/2026 tiếp tục cụ thể hóa định hướng phát triển VAMC thành định chế trung tâm của thị trường mua bán nợ xấu. Quyết định yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý theo hướng tăng tính tự chủ, mở rộng chức năng, nhiệm vụ và bảo đảm năng lực, nguồn lực để VAMC thực hiện mua, bán, xử lý nợ xấu, định giá và đấu giá tài sản. Qua đó, hoạt động của VAMC được gắn chặt hơn với quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng và phát triển thị trường mua bán nợ bền vững, đồng thời mở rộng khả năng lựa chọn phương thức xử lý phù hợp với từng khoản nợ.
Năng lực tài chính là một trong những nội dung được đặt ra trong các định hướng mới. Quyết định 1413 đặt ra nhiệm vụ tăng vốn điều lệ VAMC, trong khi Quyết định 1809 xác định trách nhiệm của các cơ quan trong quá trình triển khai. Theo đó, NHNN được giao chủ trì, phối hợp xử lý việc tăng vốn điều lệ; Bộ Tài chính phối hợp cân đối, bố trí nguồn ngân sách theo phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ. Việc bổ sung vốn điều lệ, khi được thực hiện theo quyết định của cấp có thẩm quyền, sẽ tạo thêm nguồn lực để VAMC mua nợ theo giá trị thị trường và triển khai các phương án phục hồi giá trị tài sản, góp phần đẩy nhanh quá trình thu hồi và luân chuyển vốn.
Cùng với tăng cường năng lực tài chính, công cụ xử lý nợ của VAMC cũng được mở rộng. Nghị định số 359/2026/NĐ-CP ngày 17/9/2026, có hiệu lực từ ngày 6/11/2026, quy định VAMC được thực hiện hoạt động tư vấn, môi giới mua bán nợ và tài sản, tổ chức bán đấu giá tài sản; hỗ trợ tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thu hồi, xử lý nợ và tài sản bảo đảm; tư vấn tái cơ cấu doanh nghiệp. Việc bổ sung các công cụ này giúp VAMC có thêm phương thức xử lý nợ, kết nối nhà đầu tư và xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật.
Mở rộng tín dụng góp phần cung ứng nguồn vốn cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, hiệu quả của dòng vốn còn phụ thuộc vào khả năng sử dụng vốn của khách hàng và diễn biến của môi trường kinh doanh. Với một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam, những biến động bất lợi có thể tác động đến doanh thu, dòng tiền và khả năng trả nợ của doanh nghiệp, từ đó làm phát sinh nợ xấu. Vì vậy, cùng với mở rộng tín dụng, năng lực xử lý nợ cần được củng cố để hạn chế vốn bị ứ đọng và sớm đưa nguồn lực trở lại vòng quay đầu tư.
Trong mối liên hệ đó, Quyết định số 1413/QĐ-TTg, Quyết định số 1809/QĐ-TTg và Nghị định số 359/2026/NĐ-CP đã xác lập những định hướng mới cho hoạt động của VAMC, từ nâng cao năng lực tài chính, mở rộng công cụ mua và xử lý nợ đến gắn thu hồi nợ với phục hồi doanh nghiệp, khai thác giá trị tài sản và phát triển hạ tầng thị trường mua bán nợ.
Tin liên quan
Tin khác
Sáng 13/10: NHNN niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 25.633 đồng
Đồng bộ giải pháp để dòng vốn ngân hàng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế Đà Nẵng
Sáng 12/10: Tỷ giá trung tâm giảm 8 đồng
Nam A Bank lần đầu góp mặt trong Top 10 ngân hàng niêm yết Đông Nam Á
Mở thêm dư địa cho tín dụng du lịch
Ngành Ngân hàng triển khai chuẩn ISO 20022 trong hệ thống thanh toán quốc gia
Khơi thông tín dụng, phát huy tiềm năng kinh tế khu vực 3
Hoàn thiện khung pháp lý quản trị rủi ro, củng cố an toàn hệ thống theo chuẩn mực quốc tế
Tăng trưởng không nên dựa quá nhiều vào tín dụng




