Thị trường lao động tiếp tục gặp khó

07:01 | 15/01/2022

Trong năm 2021, tình hình dịch bệnh kéo dài và phức tạp hơn trong năm 2020 đã khiến cho hàng triệu người mất việc, số lượng lao động trong các ngành tiếp tục giảm, đặc biệt là khu vực dịch vụ. Và dự báo năm 2022, thị trường lao động vẫn tiếp tục gặp khó.

Tỷ lệ thiếu việc làm gia tăng

Theo Tổng cục Thống kê, tính chung cả năm 2021, thị trường lao động vẫn còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ thất nghiệp cao hơn năm trước, trong đó khu vực thành thị vượt 4%.

Báo cáo về tình hình lao động việc làm trong năm 2021 cho thấy, do dịch kéo dài và phức tạp hơn trong năm 2020 đã khiến cho hàng triệu người mất việc, lao động trong các ngành tiếp tục giảm, đặc biệt là khu vực dịch vụ. Lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng là 16,3 triệu người (chiếm 33,2%), giảm 254,2 nghìn người so với năm 2020; khu vực dịch vụ là 18,6 triệu người (chiếm 37,9%), giảm 800,8 nghìn người so với năm trước; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản là 14,2 triệu người (chiếm 28,9%), tăng 37,3 nghìn người so với năm 2020. Cũng trong năm 2021, số lao động có việc làm chính thức và phi chính thức đều giảm. Số lao động có việc làm phi chính thức là 19,8 triệu người, giảm 628,0 nghìn người. Số lao động có việc làm chính thức là 15,4 triệu người, giảm 469,8 nghìn người so với năm 2020.

thi truong lao dong tiep tuc gap kho
Thị trường lao động đang từng bước phục hồi, nhưng chưa bền vững và vẫn còn nhiều khó khăn, thử thách

Năm 2021, cả nước có 2,2 triệu người di cư từ các trung tâm kinh tế về quê tránh dịch, tác động tiêu cực cho thị trường lao động và đến cuối năm, nhiều người trong số này vẫn chưa trở lại làm việc khi các thành phố lớn mở cửa trở lại. Đây đang là vấn đề nan giải đối với các doanh nghiệp trong việc sử dụng lao động để quay trở lại hoạt động sản xuất.

Có thể thấy, với sự ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid cùng thời gian phong tỏa kéo dài đã khiến sức lực của nhiều doanh nghiệp đã bị bào mòn. Trong năm 2021, đã có 119.828 doanh nghiệp đã tạm ngừng hoạt động, giải thể, tăng cao so với năm trước 17,8%. Trong số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường có tới 54.960 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh (chiếm 45,9%), tức là chưa rời thị trường mà tiếp tục “đóng băng”, chờ đợi thời điểm thích hợp để tìm kiếm cơ hội kinh doanh mới. Số doanh nghiệp chờ làm thủ tục giải thể là 48.127, tăng 27,8% so với năm 2020. Số doanh nghiệp đã giải thể, chấm dứt tồn tại trong năm 2021 là 16.741, giảm 4,1% so với năm 2020… Những tác động này đã ảnh hưởng lớn tới thu nhập của người lao động và khiến tỷ lệ lao động mất việc, thiếu việc làm gia tăng.

Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Đào Ngọc Dung cho biết, đại dịch Covid-19, đặc biệt là đợt bùng phát lần thứ 4 đã ảnh hưởng lớn đến vấn đề lao động, việc làm, an sinh xã hội của người dân. Ước tính số người lao động bị mất việc làm chiếm khoảng 5% và 32% số người phải tạm nghỉ hoặc tạm ngừng sản xuất, kinh doanh. Gần 50% người bị cắt giảm giờ làm hoặc buộc phải nghỉ giãn việc, nghỉ luân phiên. Đây là một mức giảm đáng kể, làm suy yếu sức mua của thị trường và ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống người lao động.

Sớm phục hồi thị trường lao động

Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam nói chung và thị trường lao động nói riêng đang từng bước phục hồi, nhưng chưa bền vững và vẫn còn đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Thực tế này đòi hỏi Chính phủ và các cấp, các ngành nỗ lực hơn nữa trong việc giải quyết việc làm cho người lao động, bảo đảm an sinh xã hội trong năm 2022 và những năm tiếp theo.

Đây là thách thức rất lớn đối với mục tiêu “sống chung an toàn với Covid-19” và phục hồi phát triển kinh tế - xã hội thời gian tới. Do đó việc sớm phục hồi thị trường lao động cần được thực hiện sớm để thúc đẩy được hoạt động sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế.

Theo dự báo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), dịch bệnh Covid-19 có thể còn tiếp diễn với những diễn biến khó lường trong năm 2022 - 2023, nhưng với tỷ lệ tiêm chủng ngày càng cao, các nước (trong đó có Việt Nam) sẽ mạnh mẽ chuyển sang “trạng thái bình thường mới”.

Để giải quyết tốt vấn đề việc làm cho người lao động, theo Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cần phải thực hiện nhiều giải pháp cấp thiết. Trong đó nổi lên là việc nhanh chóng hoàn thiện thể chế, hỗ trợ phục hồi và phát triển thị trường lao động, việc làm. Đồng thời, duy trì lực lượng lao động, nhất là trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, các trung tâm tăng trưởng; tăng cường các biện pháp giữ chân người lao động đang làm việc, không để đứt gãy chuỗi cung ứng nguồn lao động cho sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; hỗ trợ người lao động được vay vốn giải quyết việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm. Đây là những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu để phục hồi nền kinh tế trong giai đoạn tới.

Cùng với đó, tiếp tục triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 và thiên tai, rủi ro; Phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động, tăng khả năng kết nối cung - cầu trên thị trường, hình thành hệ thống thu thập, chia sẻ thông tin về việc tìm người và người tìm việc; Phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội tự nguyện; Triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2030 theo tiêu chí mới từ ngày 1/1/2022.

Song song với đó là phát triển giáo dục nghề nghiệp, tăng cường đào tạo thường xuyên, đào tạo lại lao động và tăng cường chuẩn hóa chất lượng lao động trình độ kỹ năng nghề giúp người lao động có cơ sở và cơ hội thuận lợi học tập nâng cao trình độ kỹ năng. Qua đó đáp ứng nhu cầu phục hồi và phát triển kinh tế bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực có chất lượng cao, có kỹ năng cho thị trường lao động và yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, góp phần nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Năm 2021, thiếu việc làm trong độ tuổi là hơn 1,4 triệu người, tăng 370,8 nghìn người so với năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi là 3,10%, tăng 0,71 điểm phần trăm so với năm trước. Tỷ lệ này ở khu vực thành thị là 3,33%, cao hơn 0,37 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn. Diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 lần thứ tư đã đẩy tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn trong năm 2021. Điều này trái với xu hướng thị trường lao động thường được quan sát ở nước ta với tình trạng thiếu việc làm ở khu vực nông thôn thường nghiêm trọng hơn so với thành thị.

Nguyễn Minh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.975 23.285 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.005 23.285 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.980 23.280 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.965 23.260 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.030 23.240 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.010 23.230 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.005 23.405 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.009 23.295 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.010 23.260 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.040 23.230 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.250
69.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.250
69.250
Vàng SJC 5c
68.250
69.270
Vàng nhẫn 9999
53.800
54.800
Vàng nữ trang 9999
53.600
54.400