Thị trường vàng ngày 25/8: Mất mốc quan trọng 1.800 USD/oz

09:34 | 25/08/2021

Theo các chuyên gia, dường như vàng đang bị chốt lời và đã mất mốc quan trọng 1.800 USD/oz trong bối cảnh nhà đầu tư đang chờ đợi bài phát biểu của Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Powell tại hội nghị Jackson Hole vào cuối tuần

thi truong vang ngay 258 mat moc quan trong 1800 usdoz Thị trường vàng ngày 24/8: Điều chỉnh nhẹ sau khi vượt ngưỡng cản 1.800 USD/oz
thi truong vang ngay 258 mat moc quan trong 1800 usdoz Thị trường vàng ngày 23/8: Xuất hiện mô hình 'Ngôi sao Doji' giảm giá
thi truong vang ngay 258 mat moc quan trong 1800 usdoz

Tính đến 9h sáng nay (25/8) theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới giảm -8,7 USD/oz (-0,48%) so với cuối phiên trước, xuống mức 1.794,3 USD/oz, giao dịch trong phiên dao động quanh mức 1.793,7 - 1.810,8 USD/oz.

Trong khi đó, giá vàng hợp đồng tương lai tháng 12 giảm 11,8 USD/oz (-0,65%) so với cuối phiên trước, hiện niêm yết ở mức 1.796,7 USD/oz.

Chốt phiên giao dịch hôm qua (giờ Mỹ), giá vàng giao ngay ổn định ở ngay trên mức quan trọng 1.8000 USD/oz, sau khi chạm mức cao nhất kể từ ngày 5/8; trong khi giá vàng tương lai tăng nhẹ 0,1%.

Tuy nhiên vào sáng nay, giá vàng đã rơi khỏi mốc 1.800 USD/oz trong bối cảnh các nhà đầu tư đang chờ đợi bài phát biểu của Chủ tịch Fed Powell tại hội nghị Jackson Hole vào cuối tuần.

Đây sẽ là sự kiện cơ bản quyết định hướng đi trong tương lai của USD, qua đó tác động đến vàng.

Trước đó, việc giá vàng tăng khá mạnh hôm thứ Hai, từ khoảng 1.780 USD/oz lên trên 1.800, cho thấy nhiều nhà đầu tư đang tin rằng Chủ tịch Fed sẽ thể hiện quan điểm ôn hòa hơn tại hội nghị sắp tới.

Trước đó, sau khi biên bản cuộc họp Fed tháng Bảy được công bố, thị trường nhận thấy nhiều thành viên Fed trở nên có quan điểm "diều hâu" hơn. Tuy nhiên, việc biến thể Delta của vi-rút SARS-CoV đang lây lan mạnh dịch Covid-19 tại Mỹ dường như đã khiến họ thận trọng hơn và xem xét lại quan điểm này.

Theo các chuyên gia, với quan điểm xuyên suốt từ khi đại dịch bùng phát là "các quyết định chính sách sẽ phụ thuộc vào dữ liệu kinh tế", thì hiện Chủ tịch Powell đang khá "đau đầu" bởi báo cáo việc làm tháng Bảy cho thấy nền kinh tế Mỹ đang phục hồi, nhưng dữ liệu về sự gia tăng đáng báo động của số ca lây nhiễm Covid-19 do biến thể Delta vẫn là rủi ro lớn có thể cản trở sự phục hồi kinh tế.

Vì lý do đó, rất có thể Chủ tịch Powell sẽ không đưa ra thông báo về mốc thời gian Fed sẽ bắt đầu giảm mua tài sản trong cuộc họp sắp tới.

"Tôi tin rằng thị trường sẽ phải đợi đến cuộc họp của Fed vào tháng 9 để nhận được thông tin nào đó về mốc thời gian Fed giảm dần mua tài sản, bởi khi đó Fed sẽ có số liệu mới nhất về báo cáo việc làm tháng Tám và dữ liệu về mức độ ảnh hưởng kinh tế của biến thể Delta", Gary Wagner, chuyên gia phân tích của Kitco, nhận định.

Trong khi đó, chuyên gia phân tích cấp cao tại Kitco Metals, Jim Wyckoff, cho rằng: “Thị trường đã chuyển hướng quan tâm từ việc Fed sẽ nghiêng về quan điểm ‘diều hâu’ tại Hội nghị Jackson Hole đến đâu sang liệu dịch Covid-19 có khiến Fed không thể thay đổi bất cứ chính sách nào, thậm chí cho đến hết năm nay”.

Phản ánh tác động kinh tế của biến thể Delta, dữ liệu mới nhất cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của Mỹ đã tăng trưởng chậm lại trong tháng Tám.

“Rủi ro với thị trường vàng là Fed có thể bắt đầu nói rằng lạm phát không phải là nhất thời như họ đã từng dự đoán, và điều đó có thể khiến ngân hàng trung ương thắt chặt chính sách ngay lập tức, bất chấp tác động của dịch Covid-19 đang lấn át những lo ngại về lạm phát trong lúc này”, Wyckoff nói.

Ở góc độ kỹ thuật, Fawad Razaqzada, nhà phân tích thị trường của ThinkMarkets, lưu ý rằng 1.805 - 1.810 USD/oz là mốc quan trọng đối với vàng để xác lập xu hướng đi lên.

Nhưng, “có thể thấy sự sụt giảm tiềm năng”, ông nói, “đặc biệt là khi thị trường chốt lời, và nếu vàng hạ xuống mức thấp nhất hôm thứ Hai ở 1.776 USD/oz, điều đó có thể kích hoạt một đợt bán kỹ thuật mới”.

Về dài hạn, nhiều chuyên gia vẫn cho rằng vàng có lợi thế. Các nhà nghiên cứu tại Next Generation Research mới đây đã viết trong một báo cáo rằng: "Mặc dù chịu áp lực trong ngắn hạn, nhưng như sau một cuộc suy thoái mới, nó có thể mang lại sự hỗ trợ lâu dài cho giá vàng".

Ở thông tin khác, quỹ giao dịch vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust mới đây đã giảm 2,03 tấn vàng dự trữ, hiện còn duy trì 1.004,63 tấn.

thi truong vang ngay 258 mat moc quan trong 1800 usdoz

Tại thị trường trong nước, tính đến 9h sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 56,45 - 57,15 triệu đồng/lượng, giảm 50 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng SJC đang được niêm yết ở mức 56,45 - 57,17 triệu đồng/lượng, giảm 50 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra so với cuối phiên trước đó.

Trong khi đó, giá vàng DOJI tại TP.HCM và Hà Nội cùng niêm yết ở mức 56,25 - 57,85 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.625 22.855 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.650 22.850 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.633 22.853 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.650 22.862 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.640 22.850 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
57.400
58.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
57.400
58.100
Vàng SJC 5c
57.400
58.120
Vàng nhẫn 9999
51.000
51.700
Vàng nữ trang 9999
50.600
51.400