Thị trường vàng sáng 30/6: Nhích nhẹ trở lại

09:01 | 30/06/2022

Sáng nay, vàng nhích nhẹ sau phiên giảm trước đó trong bối cảnh chịu áp lực đến từ việc tăng lãi suất mạnh mẽ nhưng được hỗ trợ từ nhu cầu trú ẩn an toàn do rủi ro suy thoái ngày càng gia tăng.

thi truong vang sang 306 nhich nhe tro lai Thị trường vàng sáng 29/6: Tiếp đà giảm
thi truong vang sang 306 nhich nhe tro lai Thị trường vàng sáng 28/6: Nhích nhẹ sau phiên giảm

Tính đến 9h sáng nay theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới tăng 1,3 USD (+0,07%) so với mở cửa lên 1.819,4 USD/oz, giao dịch đang dao động trong khoảng 1.811,8 - 1.834,2 USD/oz.

Trong khi đó, giá vàng hợp đồng tương lai tháng 8/2022 tăng 2,7 USD (+0,17%), hiện giao dịch quanh mức 1.820,2 USD/oz.

thi truong vang sang 306 nhich nhe tro lai

Chốt phiên hôm qua (giờ Mỹ), giá vàng giao ngay và giá vàng tương lai cùng giảm 0,2% trong bối cảnh chịu áp lực đến từ việc tăng lãi suất mạnh mẽ nhưng được hỗ trợ từ nhu cầu trú ẩn an toàn do rủi ro suy thoái ngày càng gia tăng.

"Con số GDP của Mỹ yếu hơn một chút so với dự kiến ​​tiếp tục làm dấy lên mối lo ngại về khả năng tiến tới suy thoái kỹ thuật. Tuy nhiên, thị trường vàng tiếp tục ở trong tình trạng yếu do Fed cam kết mạnh mẽ trong việc chống lạm phát", David Meger, giám đốc giao dịch kim loại tại High Ridge Futures nói.

Hôm qua, số liệu từ Bộ Thương mại Mỹ cho thấy GDP của Mỹ đã giảm 1,6% trong quý I sau khi tăng 6,9% trong quý IV/2021. Con số mới được công bố đã củng cố kỳ vọng của thị trường rằng Mỹ đang đứng trước nguy cơ xảy ra một cuộc suy thoái kỹ thuật nếu nó không tăng trưởng dương trở lại vào cuối quý II.

Trong khi đó, hôm qua, tại sự kiện của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Jerome Powell cho biết Fed đang chạy đua với thời gian để kiềm chế lạm phát tăng nóng. Tuy nhiên, Fed không có lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục tăng lãi suất để đạt được điều này, mặc dù không có gì đảm bảo rằng nó có thể tạo ra một cú "hạ cánh mềm" cho nền kinh tế.

"Có rủi ro nào khi chúng tôi tăng lãi suất mạnh mẽ không? Chắc chắn là có. Nhưng sai lầm lớn hơn mà bạn có thể mắc phải là không khôi phục được sự ổn định về giá cả”, ông Powell nói.

Trước đó, các chuyên gia kinh tế cho rằng Fed đã để "lãi suất quá thấp trong thời gian quá dài". Mặc dù hiện Fed sẽ tăng mạnh lãi suất nhằm kiềm chế lạm phát, nhưng có thể họ sẽ không đạt được kỳ vọng bởi các nguyên nhân chính gây lên lạm phát cao là do vấn đề về chuỗi cung ứng, và điều này nằm ngoài kiểm soát của Fed.

Quay lại với kim loại quý màu vàng, các chuyên gia cho rằng môi trường hiện tại là không tốt đối với vàng dù kim loại quý này đang khẳng định sức mạnh của mình khi liên tục dao động trong khoảng giá hiện tại, bất chấp kỳ vọng tăng lãi suất không ngừng của Fed.

“Vàng vẫn bị mắc kẹt, nhưng khả năng giảm xuống dưới mức 1.800 USD/oz là không lớn vì dường như bạc xanh có thể đang ở đỉnh”, chuyên gia phân tích thị trường tại OANDA, Ed Moya nhận định.

Ở chiều ngược lại, chuyên gia nghiên cứu thị trường châu Á - Thái Bình Dương của OANDA, Jeffrey Halley cho rằng: “Vàng đang bị "bỏ rơi" và biến động giá gần đây cho thấy rủi ro giảm giá đang gia tăng đối với vàng".

Lạc quan hơn, trong một cuộc phỏng vấn gần đây với Kitco News, Byron King, biên tập viên và chuyên gia kim loại quý tại Agora Financial, nói rằng ông hy vọng chỉ là vấn đề thời gian trước khi vàng một lần nữa trở thành kim loại tiền tệ thiết yếu.

“Xu hướng giá của vàng hiện nay là một minh chứng cho giá trị lịch sử của nó. Nắm giữ một số kim loại quý sẽ giúp bảo toàn tài sản trong thời kỳ rất hỗn loạn này khi thế giới chuyển dịch khỏi đồng đô la Mỹ", ông nói.

Trên góc độ kỹ thuật, phe đánh xuống đang có lợi thế tổng thể trong ngắn hạn. Tuy nhiên, việc giao dịch đi ngang và dao động trong biên độ hẹp gần đây, ở các mức giá thấp dần, đang cho thấy một đáy thị trường đang hình thành.

Mục tiêu tăng giá tiếp theo của vàng là tạo ra mức đóng cửa trên mức kháng cự vững chắc ở mức cao nhất trong tháng Sáu là 1.882,50 USD/oz.

Mục tiêu giá giảm trong ngắn hạn tiếp theo là xuống dưới mức hỗ trợ kỹ thuật vững chắc ở 1.800 USD/oz.

Mức kháng cự gần nhất được ghi nhận tại 1.834,90 USD/oz và sau đó là mức cao nhất của tuần này ở 1.842,80 USD/oz.

Trong khi đó, mức hỗ trợ gần nhất được ghi nhận ở 1.810,70 USD/oz và sau đó là mức thấp nhất trong tháng Sáu ở 1.806,10 USD/oz.

Ở thông tin khác, hôm qua, quỹ giao dịch vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust tiếp tục giảm 3,77 tấn vàng nắm giữ xuống còn 1.052,63 tấn.

thi truong vang sang 306 nhich nhe tro lai

Tại thị trường trong nước, sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 68,25 - 68,85 triệu đồng/lượng, tăng 50 nghìn đồng/lượng ở giá mua vào và giảm 50 nghìn đồng/lượng ở chiều bán ra so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng SJC được niêm yết ở mức 68,25 - 68,87 triệu đồng/lượng, tăng 50 nghìn đồng/lượng ở giá mua vào và giảm 50 nghìn đồng/lượng ở chiều bán ra so với cuối phiên trước đó.

Trong khi đó, giá vàng DOJI tại TP. HCM và Hà Nội được niêm yết tại 68,10 - 68,80 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.530 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.250 23.530 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.230 23.530 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.240 23.525 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.800 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.260 23.750 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.246 23.532 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.230 23.530 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.290 23.540 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.000
67.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.000
67.000
Vàng SJC 5c
66.000
67.020
Vàng nhẫn 9999
52.350
53.250
Vàng nữ trang 9999
52.250
52.850