Thực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt, bám sát thực tế

07:53 | 23/04/2021

Tại buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng quý I/2021 và kỷ niệm 70 năm thành lập ngành Ngân hàng diễn ra vừa qua (22/4), đại diện lãnh đạo các vụ, cục của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thông tin và giải đáp một số vẫn đề “nóng” về chính sách tiền tệ được dư luận quan tâm trong thời gian qua.

thuc hien chinh sach tien te linh hoat bam sat thuc te
Ông Phạm Thanh Hà, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ phát biểu tại buổi họp báo

Ông Phạm Thanh Hà, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ:

Mặt bằng lãi suất sẽ tiếp tục ổn định

Năm 2020, NHNN đã điều chỉnh lãi suất mạnh nhất trong nhiều năm trở lại đây với 3 lần hạ lãi suất điều hành. Vì vậy, mặt bằng lãi suất trên thị trường cũng theo định hướng của NHNN giảm dần. Với trên 9 triệu tỷ đồng dư nợ và trên 10 triệu tỷ đồng huy động từ nền kinh tế, độ trễ có, định hướng điều chính sách tiền tệ cần thời gian để mặt bằng lãi suất giảm xuống. Thực tế đã chứng minh, trong năm 2020, mặt bằng lãi suất cho vay và huy động đã giảm khoảng 1% như số liệu NHNN đã thu thập được.

Trong 3 tháng đầu năm nay, xu hướng giảm lãi suất tiếp diễn. Có thể khẳng định được định hướng cho thị trường cần có độ trễ nhất định. Qua quan sát, do thanh khoản hiện nay khá tốt nên trước mắt lãi suất vẫn sẽ ổn định và trong điều kiện có cơ sở tiếp tục kiểm soát thì lãi suất có thể giảm trong thời gian tới.

Còn lãi suất cho vay cũng giống lãi suất huy động, ngành Ngân hàng phải cân đối lợi ích của cả người gửi tiền lẫn người vay vốn, cộng với bối cảnh của lạm phát, tỷ giá… thì lãi suất cho vay cũng phải có diễn biến phù hợp với mức độ thanh khoản, đầu vào của các tổ chức tín dụng, yếu tố khác của kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, lãi suất sẽ tiếp tục ổn định.

Còn tín dụng, NHNN giao chỉ tiêu tín dụng là cần thiết trong điều hành đảm bảo an toàn vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo thanh khoản, ổn định lãi suất trên thị trường trong nhiều năm qua. Với bối cảnh với quy mô tín dụng khá lớn, nền kinh tế dựa vào nhiều tín dụng ngân hàng, việc kiểm soát tốc độ tăng tín dụng rất là cần thiết, giao chỉ tiêu hàng năm cho từng tổ chức tín dụng, tuỳ diễn biến trong năm có thể điều chỉnh phù hợp thực tế, thực hiện theo định hướng đảm bảo cung ứng đủ vốn cho nền kinh tế, khuyến khích tín dụng vào lĩnh vực ưu tiên, kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực rủi ro.

thuc hien chinh sach tien te linh hoat bam sat thuc te
Ông Nguyễn Tuấn Anh, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế phát biểu tại buổi họp báo

Ông Nguyễn Tuấn Anh, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế:

Tín dụng vào bất động sản, chứng khoán không tăng đột biến

Từ 2018-2020, tăng trưởng tín dụng bất động sản lần lượt là 26,76%, 21,53% và 11,89%. Nếu so sánh với cùng kỳ của các năm trước, mức tăng khoảng 3% trong 3 tháng đầu năm, dù cao hơn năm 2020 do bị ảnh hưởng Covid-19 nhưng vẫn thấp hơn những năm trước đó, cho nên chúng tôi đánh giá là không tăng đột biến. Tín dụng vào bất động sản của toàn Ngành chiếm khoảng 19% trên tổng dư nợ của nền kinh tế. Như vậy, hiện nay NHNN đang kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào bất động sản

Tăng trưởng nóng bất động sản, theo các chuyên gia đánh giá, xuất phát từ việc nhà đầu tư có hiện tượng đầu cơ, lướt sóng do một số địa phương ban hành bảng giá tăng từ 15-20%.

Ngoài ra thị trường chứng khoán cũng có dấu hiệu tăng. Với chứng khoán, tổng dư nợ cho vay chứng khoán quý I/2021 là 45.300 tỷ đồng, chỉ chiếm 0,5% tổng dư nợ của nền kinh tế. Về quy mô, tín dụng trong lĩnh vực chứng khoán không lớn, khoảng 9,5 triệu tỷ đồng.

Tuy nhiên, NHNN cũng đánh giá bất động sản và chứng khoán là hai lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro nên  vẫn sẽ tăng cường chỉ đạo, giám sát để siết chặt dòng tiền, kiểm tra, kiểm soát sau cho vay đối với các lĩnh vực này.

Đối với các giải pháp tránh rủi ro, NHNN đã ban hành các quy định nhằm hạn chế đầu tư vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Ví dụ như NHNN đã ban hành Thông tư quy định tỷ lệ an toàn trong đó điều chỉnh tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn (hiện đang áp dụng 40%). Ngoài ra, áp dụng tăng hệ số rủi ro trong tín dụng để tăng cường giám sát và hạn chế các khoản vay vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như chứng khoán, bất động sản. Ví dụ như là các hợp đồng tín dụng có mức từ 4 tỷ đồng trở lên áp dụng hệ số rủi ro 150%...

thuc hien chinh sach tien te linh hoat bam sat thuc te
Ông Phạm Tiến Dũng, Vụ trưởng Vụ Thanh toán phát biểu tại buổi họp báo

Ông Phạm Tiến Dũng, Vụ trưởng Vụ Thanh toán:

Đảm bảo quyền lợi của khách hàng khi tham gia Mobile Money

Với Mobile Money, NHNN xác định đầu tiên phải theo hướng bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của khách hàng trên 3 khía cạnh.

Thứ nhất là tiền, tiền của tất cả khách hàng sử dụng Mobile Money, các nhà mạng phải gửi ở ngân hàng, không được sử dụng với mục đích khác.

Thứ hai là về thông tin, hệ thống Mobile Money được xây dựng dựa trên yêu cầu thông tin cấp độ của quốc gia để bảo vệ thông tin cho khách hàng tuyệt đối.

Thứ ba là khi có tiền trong Mobile Money, khách hàng được sử dụng tất cả các dịch vụ một cách hợp pháp.

Với băn khoăn về thời điểm 2 năm có đủ thực hiện thí điểm thì Quyết định 316 nêu rõ, 2 năm kể từ ngày doanh nghiệp đầu tiên được cấp phép thí điểm chứ không phải 2 năm kể từ ngày 9/3/2021.

Theo đánh giá của NHNN và các bộ, ngành khi xây dựng Quyết định 316, các bên đều cho rằng thí điểm Mobile Money trong 2 năm sẽ đủ để chúng ta nhận diện vấn đề, tổng kết xây dựng quy định nếu như tác động đến nền kinh tế.

Hương Giang

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.860 23.060 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.835 23.055 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.860 23.040 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.860 23.040 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.858 23.073 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.850 23.065 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.880 23.060 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.900 23.040 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.700
57.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.700
57.400
Vàng SJC 5c
56.700
57.420
Vàng nhẫn 9999
51.150
51.850
Vàng nữ trang 9999
50.850
51.550