Chỉ số kinh tế:
Ngày 2/11/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.631 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.400/26.862 đồng/USD. Kinh tế tháng 9/2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, với các động lực sản xuất, tiêu dùng, xuất khẩu, đầu tư và việc làm tiếp tục được duy trì. Trong công nghiệp, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,0% so với tháng trước; chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,5%, trong khi chỉ số tồn kho tăng 4,3%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 690,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,77 triệu lượt người, giảm 11,3%. Xuất khẩu là điểm sáng với kim ngạch đạt 59,48 tỷ USD, tăng 8,5% so với tháng trước; cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 1,27 tỷ USD. CPI tăng 0,62% so với tháng trước. Thu ngân sách Nhà nước tháng Chín ước đạt 162,7 nghìn tỷ đồng, chi ngân sách Nhà nước ước đạt 256,8 nghìn tỷ đồng. Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện chín tháng đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước, là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của chín tháng trong 5 năm qua. Thị trường lao động duy trì tích cực khi lao động có việc làm chín tháng đạt 52,7 triệu người, cao hơn 683,8 nghìn người; thu nhập bình quân đạt 9,1 triệu đồng/tháng, cao hơn 752,8 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.

Tiền Đông Dương - Indochine (1885 - 1945): Tiền bằng kẽm

Lâm.TV
Lâm.TV  - 
Tiền 1 cent: Trong hai năm 1940 và 1941, Ngân hàng Đông Dương cho đúc tại Hà Nội (Việt Nam) 3 loại tiền xu hình tròn, lỗ tròn ở giữa, chất liệu kẽm với mệnh giá 1 cent. Các đồng xu đều có đường kính 28,3mm, dày 1,6mm và trọng lượng 5,2gr.
aa
Tiền Đông Dương - Indochine (1885 - 1945): Tiền bằng kẽm

Mặt trước đồng tiền, phía dưới ghi mệnh giá “1 cent”, phía trên là hình chiếc mũ Phrygian, bên trong mũ có hình bông hoa 11 cánh (11 pétales), riêng đồng đúc năm 1940 còn có thêm loại 12 cánh hoa (12 pétales) và vòng tròn. Bao quanh lỗ tròn là vòng nguyệt quế, bao quanh viền cạnh xu có dòng chữ “INDOCHINE FRANCAISE”. Tất cả các đồng xu đều có cạnh trơn không xẻ rãnh hình răng cưa.

Tiền do Ngân hàng Đông Dương phát hành (1874-1955) Tiền Đông Dương giai đoạn 1875-1945 Tiền Đông Dương - Indochine (1885 - 1945): Tiền niken và hợp kim niken - đồng

Mặt sau đồng tiền ghi mệnh giá “1 cent” ở chính giữa, phía dưới ghi năm đúc, bao quanh lỗ là hai bó lúa mì, viền bao quanh cạnh xu có dòng chữ “INDOCHINE FRANCAISE”.

Tiền 1/2 cent: Trong hai năm 1939 và 1940, Ngân hàng Đông Dương cho đúc hai loại tiền xu hình tròn, lỗ tròn ở giữa, chất liệu kẽm với mệnh giá 1/2 cent. Họa tiết không khác gì so với đồng 1/2 cent chất liệu đồng. Trọng lượng các đồng tiền giảm từ 4 gr còn 3gr do chất liệu kẽm nhẹ hơn chất liệu đồng. Cả hai loại tiền này đều được đúc tại Paris (Pháp). Số lượng các đồng tiền được đúc bằng kẽm rất ít, chỉ có 185.000 đồng, đến nay còn rất ít và đây là hai đồng tiền rất hiếm.

Tiền 1/4 cent: Từ năm 1942 đến 1944, Ngân hàng Đông Dương cho đúc 3 loại đồng xu kẽm, mệnh giá 1/4 cent, hình tròn, lỗ tròn ở giữa, có đường kính là 20,4mm, dày 1,5mm, trọng lượng 1,5gr.

Họa tiết trên mặt trước có hình hai bông lúa hai bên lỗ tròn của đồng xu, viền nổi hình vuông bao quanh lỗ tròn, phía trên có dòng chữ “ETAT FRANCAIS” và phía dưới có dòng chữ “INDOCHINE”, phía cuối ghi năm đúc.

Mặt sau, phía trên và dưới là mệnh giá “1/4 cent”. Đồng thời đồng xu có hai gạch bắt chéo đồng tiền tượng trưng cho góc 1/4 cent.

Tất cả các đồng tiền này đều được đúc tại Osaka (Nhật Bản).

Tiền Đông Dương - Indochine (1885 - 1945): Tiền bằng kẽm
Tiền kẽm 1 cent, 1940 – 1941 đường kính 28,3mm
Tiền Đông Dương - Indochine (1885 - 1945): Tiền bằng kẽm
Tiền kẽm 1/2 cent, 1939 - 1940 đường kính 21mm
Tiền Đông Dương - Indochine (1885 - 1945): Tiền bằng kẽm
Tiền kẽm 1/4 cent, 1942 - 1944 đường kính 20,4mm

Tiền 1/6 cent: Sau khi dừng phát hành đồng Sapèque, từ năm 1902 đến năm 1905, Ngân hàng Đông Dương cho đúc một loại đồng xu hình tròn, lỗ vuông ở giữa, chất liệu kẽm, với mệnh giá 1/6 cent (còn được gọi là đồng 1/600 piastre hoặc đồng Tonkin), có đường kính 25mm, dày 1mm, nặng 2,1gr.

Tiền Đông Dương - Indochine (1885 - 1945): Tiền bằng kẽm
Tiền kẽm 1/6 cent, 1905 đương kính 25mm

Mặt trước bao quanh viền cạnh xu có dòng chữ “PROTECTORAT DU TONKIN”, phía dưới là năm đúc và có hình bảo an sừng sung túc và bó đuốc.

Mặt sau có đúc nổi dòng chữ “Lục bách phân chi nhất thông bảo”- 六百分之一通寶.

Tiền Đông Dương giai đoạn 1875-1945 Tiền Đông Dương giai đoạn 1875-1945

Trong giai đoạn này, việc lưu hành tiền Đông Dương được phân chia làm hai thời kỳ khác biệt. Thời kỳ đầu từ ngày 21/01/1875 ...

Tiền Đông Dương - Indochine (1885 - 1945): Tiền niken và hợp kim niken - đồng Tiền Đông Dương - Indochine (1885 - 1945): Tiền niken và hợp kim niken - đồng

Tiền 20 cent: Năm 1939, Ngân hàng Đông Dương đã cho đúc 3 loại đồng xu hình tròn có mệnh giá 20 cent bằng hợp ...


Nguồn: Tác phẩm ''Lịch sử đồng tiền Việt Nam'' của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Biên tập: Mạnh - Thắng | Đồ họa: Văn Lâm

Lâm.TV

Tin liên quan

Tin khác

Tiền polymer và tiền kim loại (2003 - nay) - Kỳ III

Tiền polymer và tiền kim loại (2003 - nay) - Kỳ III

Từ tháng 12/2003, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã phát hành và đưa dần vào lưu thông một hệ thống tiền mới trên chất liệu polymer và kim loại, đồng thời thay thế, thu hồi các loại tiền giấy cotton.
Tiền polymer và tiền kim loại (2003 - nay) - Kỳ II

Tiền polymer và tiền kim loại (2003 - nay) - Kỳ II

Từ tháng 12/2003, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã phát hành và đưa dần vào lưu thông một hệ thống tiền mới trên chất liệu polymer và kim loại, đồng thời thay thế, thu hồi các loại tiền giấy cotton.
Tiền polymer và tiền kim loại (2003 - nay) - Kỳ I

Tiền polymer và tiền kim loại (2003 - nay) - Kỳ I

Từ tháng 12/2003, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã phát hành và đưa dần vào lưu thông một hệ thống tiền mới trên chất liệu polymer và kim loại, đồng thời thay thế, thu hồi các loại tiền giấy cotton.
Ngân phiếu thanh toán (1992 - 2002)

Ngân phiếu thanh toán (1992 - 2002)

Để đáp ứng nhu cầu thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phát triển, đồng thời giảm bớt áp lực khan hiếm tiền mặt trong lưu thông, ngày 01/11/1992, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành thể lệ phát hành và sử dụng Ngân phiếu thanh toán để thay thế tiền mặt.
Phiếu đồng Việt Nam gốc ngoại tệ

Phiếu đồng Việt Nam gốc ngoại tệ

Để tăng cường và thực hiện những biện pháp quản lý đồng bộ đối với việc sử dụng, chi tiêu ngoại tệ của các cơ quan và người nước ngoài tại nước ta, ngày 19/11/1987, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành thể lệ phát hành và sử dụng Phiếu đồng Việt Nam gốc ngoại tệ (gọi tắt là Phiếu đồng Việt Nam). Phiếu đồng Việt Nam do Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam phát hành, làm phương tiện chi trả thay thế tiền mặt ngoại tệ và đồng Việt Nam cho người nước ngoài dùng mua hàng hóa tại Việt Nam; chi trả hàng hóa, dịch vụ cho các tổ chức kinh doanh của Việt Nam phục vụ người nước ngoài.
Tiền phát hành năm 1985 - Kỳ III

Tiền phát hành năm 1985 - Kỳ III

Ngày 13/9/1985, Hội đồng Bộ trưởng đã ra Quyết định số 01-HĐBT-TĐ cho phép Ngân hàng Nhà nước đổi tiền theo tỷ lệ 10 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước cũ bằng 1 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước mới. Đợt đổi tiền này bắt đầu từ ngày 14/9/1985 là một bộ phận trong cuộc tổng điều chỉnh giá, lương, tiền nhằm mục đích điều chỉnh và ổn định sức mua của đồng tiền, lập lại trật tự trong khâu phân phối lưu thông và điều chỉnh một phần thu nhập của những người làm ăn bất chính.
Tiền phát hành năm 1985 - Kỳ II

Tiền phát hành năm 1985 - Kỳ II

Ngày 13/9/1985, Hội đồng Bộ trưởng đã ra Quyết định số 01-HĐBT-TĐ cho phép Ngân hàng Nhà nước đổi tiền theo tỷ lệ 10 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước cũ bằng 1 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước mới. Đợt đổi tiền này bắt đầu từ ngày 14/9/1985 là một bộ phận trong cuộc tổng điều chỉnh giá, lương, tiền nhằm mục đích điều chỉnh và ổn định sức mua của đồng tiền, lập lại trật tự trong khâu phân phối lưu thông và điều chỉnh một phần thu nhập của những người làm ăn bất chính.
Tiền phát hành năm 1985 - Kỳ I

Tiền phát hành năm 1985 - Kỳ I

Ngày 13/9/1985, Hội đồng Bộ trưởng đã ra Quyết định số 01-HĐBT-TĐ cho phép Ngân hàng Nhà nước đổi tiền theo tỷ lệ 10 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước cũ bằng 1 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước mới. Đợt đổi tiền này bắt đầu từ ngày 14/9/1985 là một bộ phận trong cuộc tổng điều chỉnh giá, lương, tiền nhằm mục đích điều chỉnh và ổn định sức mua của đồng tiền, lập lại trật tự trong khâu phân phối lưu thông và điều chỉnh một phần thu nhập của những người làm ăn bất chính.
Tiền Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1976 - 2020): Phát hành bổ sung - Kỳ II

Tiền Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1976 - 2020): Phát hành bổ sung - Kỳ II

Từ năm 1980, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành bổ sung 4 loại tiền giấy: 2 đồng, 10 đồng, 30 đồng và 100 đồng. Các tờ tiền có đặc điểm chung là: Mặt trước đều in hình ảnh Quốc huy và dòng chữ “CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM”, mệnh giá bằng chữ và bằng số. Mặt sau in dòng chữ “NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM”, mệnh giá bằng chữ và bằng số.
Tiền Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1976 - 2020): Phát hành bổ sung - Kỳ I

Tiền Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1976 - 2020): Phát hành bổ sung - Kỳ I

Từ năm 1980, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành bổ sung 4 loại tiền giấy: 2 đồng, 10 đồng, 30 đồng và 100 đồng. Các tờ tiền có đặc điểm chung là: Mặt trước đều in hình ảnh Quốc huy và dòng chữ “CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM”, mệnh giá bằng chữ và bằng số. Mặt sau in dòng chữ “NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM”, mệnh giá bằng chữ và bằng số.