Phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng 2030:

Tiếp tục kiên định với các định hướng trọng tâm đặt ra

09:26 | 05/05/2021

Ngành Ngân hàng cần được phát triển một cách toàn diện ở cả góc độ quản lý điều hành của Ngân hàng Nhà nước và hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng.

tiep tuc kien dinh voi cac dinh huong trong tam dat ra
Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Kim Anh

Trong bất kỳ một ngành nghề hay một lĩnh vực nào, việc xác định các trọng tâm cơ bản làm kim chỉ nam, định hướng cho quá trình phát triển có ý nghĩa hết sức quan trọng, từ đó các hành động cụ thể được triển khai một cách đồng bộ, nhất quán, có hệ thống, tạo nên sức mạnh tổng hợp và đạt được hiệu quả tối ưu. Ngành Ngân hàng không phải là ngoại lệ. Căn cứ thực tiễn hoạt động qua nhiều năm, nắm bắt các xu hướng phát triển trên thế giới và bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước, ngành Ngân hàng cũng đã nhận diện ra những trọng tâm để định hình các bước phát triển trong tương lai.

Trong giai đoạn từ nay đến 2025 và định hướng đến 2030, các trọng tâm đó được xác định thông qua Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến 2030 và cụ thể hơn tại một số chiến lược/đề án bộ phận như: Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia; Chiến lược phát triển Công nghệ thông tin ngành Ngân hàng Việt Nam; Chiến lược phát triển nguồn nhân lực của Ngành; Chiến lược phát triển các hệ thống thanh toán và quyết toán; Chiến lược phát triển VAMC; Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi; Chiến lược phát triển Công ty cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam…

Phát triển toàn diện

Theo đó, ngành Ngân hàng cần được phát triển một cách toàn diện ở cả góc độ quản lý điều hành của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng (TCTD).

Với NHNN phải từng bước được hiện đại hóa. Theo thời gian, mô hình tổ chức và vận hành của các ngân hàng trung ương trên thế giới đã rất khác so mô hình đầu tiên thành lập tại Thụy Điển vào năm 1668. Những thay đổi này là kết quả của quá trình điều chỉnh mô hình sau mỗi cuộc khủng hoảng nghiêm trọng hoặc những vấn đề chính sách dai dẳng trong lịch sử. Chẳng hạn như để giải quyết vấn đề lạm phát phi mã trong những năm 70 hoặc 80, ngân hàng trung ương được gắn với mục tiêu ổn định giá cả. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 lại đặt ra yêu cầu gia tăng vai trò của ngân hàng trung ương đối với sự ổn định tài chính. Khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư bùng nổ, vị thế phát hành tiền của các ngân hàng trung ương gặp nhiều thách thức với sự xuất hiện của nhiều loại tiền tệ mới (tiền ảo, tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương…); vai trò thanh tra giám sát, cấp phép hoạt động, bảo đảm an toàn hệ thống các TCTD cũng cần thay đổi cho phù hợp với sự phát triển của các loại hình dịch vụ mới, các tổ chức cung ứng dịch vụ ngân hàng phi truyền thống... Vì vậy, xu hướng hiện đại hóa ngân hàng trung ương là tất yếu và cần thiết để đảm bảo các ngân hàng trung ương đủ năng lực thực hiện tốt các vai trò, sứ mệnh quan trọng của mình.

tiep tuc kien dinh voi cac dinh huong trong tam dat ra
Hệ thống các TCTD giữ vai trò trọng yếu trong hệ thống tài chính

Việc hiện đại hóa ngân hàng trung ương ở mỗi quốc gia là khác nhau, phụ thuộc vào đặc thù kinh tế - xã hội của mỗi nước. Đối với Việt Nam, định hướng hiện đại hóa hoạt động của NHNN được cụ thể hóa tại Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng với bốn nội dung cơ bản.

Thứ nhất, tổ chức, sắp xếp lại mô hình tổ chức, tăng tính hiệu lực, hiệu quả của NHNN. Theo đó phải tiếp tục rà soát, sắp xếp, kiện toàn và tổ chức lại các vụ, cục thuộc trụ sở chính của NHNN nhằm tập trung quản lý và điều hành theo các khối hoạt động, bảo đảm yêu cầu thông suốt và hiệu quả; tiếp tục sắp xếp hệ thống Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu về cải cách hành chính và cung ứng dịch vụ tài chính; Tăng cường vai trò của NHNN trong ổn định tiền tệ và ổn định tài chính, tăng tính tự chủ và trách nhiệm giải trình. Tiếp tục nâng cao năng lực điều hành của NHNN theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế; Xây dựng và ban hành cơ chế phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của NHNN với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng và vai trò đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các TCTD và doanh nghiệp có vốn nhà nước do NHNN làm đại diện chủ sở hữu.

Thứ hai, gia tăng vai trò, năng lực của NHNN trong điều hành chính sách tiền tệ, ngoại hối, vàng, tín dụng. Cụ thể, cần tăng tính độc lập của NHNN trong điều hành chính sách tiền tệ. Sử dụng linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ bám sát diễn biến thị trường trong nước và quốc tế để đạt được mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Đổi mới công tác quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước phù hợp với quy mô dự trữ ngoại hối và thông lệ quốc tế. Thực hiện đồng bộ các biện pháp tiến tới xóa bỏ cơ bản tình trạng đô la hóa nền kinh tế. Đổi mới khuôn khổ quản lý thị trường vàng, hạn chế tình trạng vàng hóa, hỗ trợ điều hành chính sách tiền tệ và ổn định kinh tế vĩ mô. Tăng hiệu quả phân bổ nguồn vốn tín dụng phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; thúc đẩy phát triển “tín dụng xanh”, “ngân hàng xanh”.

Thứ ba, thực thi vai trò giám sát các hệ thống thanh toán, là trung tâm thanh toán và quyết toán cho các hệ thống thanh toán và hệ thống giao dịch tài chính, tiền tệ trong nền kinh tế. Phải xây dựng, phát triển, hoàn thiện các hệ thống thanh toán quan trọng trong nền kinh tế thông suốt (như: hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, hệ thống thanh toán bù trừ điện tử tự động, hệ thống thanh toán nội bộ của các ngân hàng) bảo đảm hoạt động an toàn, hiệu quả và thông suốt. Hoàn thiện chức năng giám sát của NHNN phù hợp các chuẩn mực giám sát theo thông lệ quốc tế; giám sát hiệu quả các hoạt động thanh toán xuyên biên giới, thanh toán quốc tế và việc cung ứng các phương tiện, dịch vụ thanh toán mới.

Thứ tư, thực thi vai trò thanh tra, giám sát ngân hàng, bảo đảm an toàn, lành mạnh hệ thống các TCTD, bảo đảm ổn định tài chính. Theo đó, hoàn thiện mô hình tổ chức Cơ quan Thanh tra, Giám sát ngân hàng phù hợp với lộ trình đổi mới mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của NHNN; đổi mới phương pháp thanh tra, giám sát; Tăng cường đầu tư công nghệ hỗ trợ công tác thanh tra, giám sát ngân hàng; Xây dựng cơ chế kiểm soát cán bộ đồng thời với cơ chế bảo vệ cán bộ phù hợp, hạn chế rủi ro pháp lý cho cán bộ, công chức làm công tác thanh tra, giám sát trong ngành Ngân hàng; Tăng cường chất lượng thanh tra, giám sát các tập đoàn tài chính dưới hình thức công ty mẹ - con, trong đó công ty mẹ là TCTD; kiểm soát tính liên thông giữa các TCTD với các định chế tài chính thuộc phạm vi thanh tra, giám sát của NHNN.

Với các định hướng trên, trong thời gian qua, NHNN đã và đang triển khai mạnh mẽ việc xây dựng tổ chức bộ máy tinh gọn, cơ cấu hợp lý, quản trị tiên tiến, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn vị thuộc NHNN được xây dựng đảm bảo nguyên tắc không trùng lắp, chồng chéo trách nhiệm. Đặc biệt, vai trò đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các TCTD, tổ chức tài chính và doanh nghiệp có vốn nhà nước do NHNN làm đại diện chủ sở hữu ngày càng được phân định rõ ràng. Cơ chế người đại diện phần vốn nhà nước tại các ngân hàng thương mại (NHTM) có vốn nhà nước tiếp tục được củng cố, hoàn thiện.

Chính sách tiền tệ được điều hành chủ động, đồng bộ, linh hoạt bám sát diễn biến thị trường tiền tệ, phối hợp với chính sách tài khóa, góp phần đạt mục tiêu lạm phát Quốc hội đề ra trong từng thời kỳ. Tỷ giá và thị trường ngoại tệ cơ bản ổn định, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Thanh khoản ngoại tệ được đảm bảo, hệ thống các TCTD mua ròng ngoại tệ, dự trữ ngoại hối nhà nước ở mức kỷ lục, tình trạng đô la hóa giảm dần. Thị trường vàng được quản lý hiệu quả, vận hành ổn định, góp phần chuyển hóa vàng thành vốn đưa vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tín dụng được điều hành phù hợp với các cân đối vĩ mô và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, gắn với nâng cao chất lượng tín dụng; tập trung tín dụng vào 5 lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ và đã chú trọng phát triển tín dụng xanh, ngân hàng xanh.

Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế được đầu tư, nâng cấp, hoàn thiện. Công tác giám sát các hệ thống thanh toán được chú trọng, đặc biệt, trong bối cảnh phát triển của công nghệ, các phương tiện, dịch vụ thanh toán mới, ứng dụng công nghệ hiện đại như thẻ ngân hàng, Internet-Banking, Mobile-Banking, dịch vụ trung gian thanh toán được NHNN đặc biệt quan tâm... Bên cạnh đó, nhiều rủi ro, gian lận gây mất an ninh, an toàn trong thanh toán đã được phát hiện, xử lý kịp thời.

Công tác thanh tra, giám sát ngân hàng có sự thay đổi từ phương pháp, hình thức đến nội dung thanh tra: Phương pháp thanh tra, giám sát đang từng bước chuyển đổi từ thanh tra, giám sát tuân thủ sang kết hợp với thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro; chú trọng thanh tra toàn diện pháp nhân TCTD; Phạm vi thanh tra, giám sát được mở rộng đến các công ty con, chi nhánh của TCTD ở nước ngoài, sở hữu vốn, đầu tư tài chính của TCTD; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin. Bên cạnh việc giám sát tuân thủ pháp luật, chấp hành các tỷ lệ, giới hạn an toàn hoạt động, NHNN tăng cường giám sát các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro như cấp tín dụng để đầu tư, kinh doanh bất động sản, chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, sở hữu chéo… Qua hoạt động thanh tra, giám sát đã phát hiện và xử lý nghiêm các sai phạm; cảnh báo các nguy cơ rủi ro. Theo đó, an toàn hệ thống các TCTD được đảm bảo.

Còn đối với hệ thống các TCTD, cũng cần tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng sự minh bạch và tuân thủ các chuẩn mực, thông lệ quốc tế tốt trong quản trị và trong hoạt động. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, hệ thống các TCTD vẫn giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, là “huyết mạch” của nền kinh tế. Thông qua việc huy động các nguồn vốn nhàn rỗi từ các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp và việc thực hiện thanh, quyết toán, các TCTD cung ứng, phân bổ nguồn vốn tín dụng một cách hiệu quả, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khơi thông dòng tiền trong nền kinh tế.

Ở Việt Nam, hệ thống các TCTD giữ vai trò trọng yếu trong tổng thể hệ thống tài chính với tổng tài sản chiếm tỷ trọng trên 95% tổng tài sản toàn hệ thống và chiếm gần 2/3 tổng số vốn cung ứng của nền kinh tế (khoảng 62%). Vì vậy, việc củng cố phát triển các TCTD luôn là trọng tâm của toàn ngành Ngân hàng.

Do đó, Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đã đặt ra mục tiêu: “Phát triển hệ thống các TCTD theo hướng: các TCTD trong nước đóng vai trò chủ lực; hoạt động minh bạch, cạnh tranh, an toàn, hiệu quả bền vững; cấu trúc đa dạng về sở hữu, quy mô, loại hình; dựa trên nền tảng công nghệ, quản trị ngân hàng tiên tiến, phù hợp với chuẩn mực hoạt động theo thông lệ quốc tế, hướng tới đạt trình độ phát triển của nhóm 4 nước dẫn đầu khu vực ASEAN vào năm 2025; năng động, sáng tạo để thích ứng với quá trình tự do hóa và toàn cầu hóa; đáp ứng nhu cầu về dịch vụ tài chính, ngân hàng ngày càng gia tăng của nền kinh tế, tiến tới tài chính toàn diện vào năm 2030, bảo đảm mọi người dân và doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận đầy đủ, thuận tiện các dịch vụ tài chính, ngân hàng có chất lượng, đóng góp tích cực cho phát triển bền vững”.

Đến nay hệ thống các TCTD Việt Nam là một hệ thống đa loại hình và đa sở hữu với 7 NHTM Nhà nước (trong đó có 3 NHNN mua bắt buộc), 28 NHTM cổ phần đều là các công ty đại chúng, 1 Ngân hàng Hợp tác xã và 1.181 QTDND; 11 ngân hàng 100% vốn nước ngoài và ngân hàng liên doanh; 48 chi nhánh ngân hàng nước ngoài; 49 văn phòng đại diện; 27 công ty tài chính và cho thuê tài chính; 4 tổ chức tài chính vi mô. Trong đó, các TCTD trong nước vẫn luôn duy trì được vai trò chủ lực, chủ đạo trong huy động và phân bổ tín dụng, cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Quy mô tổng tài sản, vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu của tất cả các loại hình TCTD đều có sự tăng trưởng khá mạnh qua các năm. Năng lực quản trị điều hành của các TCTD từng bước được nâng cao để tiệm cận với thông lệ quốc tế (hầu hết các NHTM đã đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn quy định tại Thông tư 41/2016/TT-NHNN ngày 31/12/2016 của NHNN quy định về tỷ lệ an toàn vốn theo chuẩn mực Basel II). Tính minh bạch trong hoạt động được cải thiện (các thông tin về sở hữu, tình hình tài chính, cơ cấu quản trị công ty, quản lý rủi ro đều được công bố công khai, minh bạch, chính xác, đảm bảo tuân thủ theo quy định của pháp luật). Chất lượng tín dụng được cải thiện. Tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống TCTD được duy trì dưới mức 2%. Công nghệ thông tin và an toàn, an ninh, bảo mật được chú trọng đầu tư, phát triển.

Công nghệ, nhân lực: Chìa khóa để phát triển nhanh và bền vững

Các lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao đều phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: áp dụng công nghệ mới, phát triển kết cấu hạ tầng hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trên thực tế, công nghệ tạo ra những đột phá và con người là yếu tố quyết định của mọi thắng lợi. Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động và cạnh tranh quyết liệt, nền kinh tế đang dần chuyển sang dựa trên tri thức, sự bùng nổ của kỷ nguyên kinh tế số, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đã và đang tác động tới mọi mặt đời sống kinh tế toàn cầu, phần thắng sẽ thuộc về những quốc gia chú trọng đồng thời cả hai yếu tố này.

Nhận thức được điều này, Chính phủ Việt Nam đã phản ứng nhanh nhạy, chủ động đưa ra nhiều định hướng lớn để tăng cường năng lực tiếp cận cuộc CMCN 4.0, thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Ngành Ngân hàng mặc dù không nằm trong 9 khu vực/lĩnh vực được đánh giá là chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của CMCN 4.0 nhưng cũng không nằm ngoài xu hướng này. Vì vậy, Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đã khẳng định rõ quan điểm ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới, sáng tạo đi đôi với phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao chính là những thành tố chính, then chốt cho quá trình phát triển nhanh và bền vững, nâng cao sức cạnh tranh, rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển của hệ thống ngân hàng so với khu vực và thế giới; đồng thời dành riêng một nhóm nhiệm vụ, giải pháp về phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực của ngành Ngân hàng.

tiep tuc kien dinh voi cac dinh huong trong tam dat ra
Hiện các ngân hàng đang đẩy mạnh số hóa hoạt động để cung cấp thêm nhiều trải nghiệm cho khách hàng

Trên cơ sở định hướng chung tại Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng, nhiều chiến lược/kế hoạch/đề án thành phần đã được NHNN xây dựng, ban hành, như: Chiến lược phát triển hệ thống công nghệ thông tin và an toàn, an ninh mạng của hệ thống ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến 2030; Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin của NHNN năm 2020; Kế hoạch hành động triển khai thực hiện Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 14/1/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thúc đẩy phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam; Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng triển khai thực hiện Nghị quyết 50/NQ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ về Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc CMCN 4.0; Kế hoạch triển khai Chương trình hành động của ngành Ngân hàng trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực; Đề án xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên kiêm chức của NHNN; Khung Đề án về việc chuẩn bị nguồn lực, cử và tiến cử đại diện tham gia học tập, công tác, nghiên cứu, biệt phái và trao đổi cán bộ tại các thể chế tài chính - ngân hàng quốc tế... Các nhiệm vụ, giải pháp tại các chiến lược/kế hoạch/đề án trên đều hướng tới mục tiêu đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong ngành Ngân hàng.

Nhờ việc quán triệt sâu rộng các chủ trương, định hướng này và triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp trong toàn Ngành, đến nay, việc ứng dụng khoa học công nghệ được triển khai trong cả hoạt động quản lý, điều hành của NHNN và hoạt động kinh doanh của các TCTD. 100% các đơn vị thuộc NHNN đã triển khai xử lý văn bản, hồ sơ công việc trên môi trường mạng; 100% văn bản gửi, nhận trên Trục liên thông văn bản quốc gia được tích hợp chữ ký số tổ chức và cá nhân NHNN. Các TCTD cũng đã có những bước đi mạnh mẽ triển khai các hoạt động ứng dụng các giải pháp kỹ thuật, công nghệ mới của CMCN 4.0 như ứng dụng dữ liệu lớn (Big Data) trong xây dựng kho dữ liệu, phục vụ cho việc chấm điểm tín dụng, phân tích hành vi khách hàng, hỗ trợ ra quyết định; ứng dụng trí tuệ nhân tạo để phục vụ khách hàng trong lĩnh vực ngân hàng số; ứng dụng công nghệ điện toán đám mây để xây dựng cơ sở hạ tầng dữ liệu thông tin. Số lượng các công ty Fintech tham gia cung ứng dịch vụ trên thị trường Việt Nam đã tăng từ khoảng 40 công ty cuối năm 2016 lên tới khoảng 200 công ty vào cuối năm 2020; trong đó, đã có khoảng 47 ngân hàng hợp tác, kết nối với các công ty này để thực hiện số hóa sản phẩm, dịch vụ và kênh cung cấp hiện đại cho khách hàng.

Cùng với những nội dung nói trên, Chiến lược phát triển nguồn nhân lực của ngành Ngân hàng đến 2025, định hướng đến 2030 cũng đang được NHNN khẩn trương hoàn thiện. Nhiều TCTD đã và đang xây dựng chiến lược phát triển của đơn vị, trong đó xác định phát triển nguồn nhân lực và công nghệ thông tin là những nền tảng quan trọng để bứt phá trong tương lai. Hai cơ sở đào tạo đại học trực thuộc NHNN là Học viện Ngân hàng và Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều bước tiến trong xây dựng, triển khai các ngành, chuyên ngành đào tạo liên quan đến ứng dụng công nghệ, tự động hóa trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng, như: Mở ngành đào tạo mới công nghệ thông tin trình độ đại học; mở các chuyên ngành đào tạo mới về ứng dụng công nghệ thông tin như Công nghệ tài chính (Fintech), Quản trị thương mại điện tử (E-commerce), Quản trị kinh doanh số (E-Business), Marketing số (Digital Marketing), Kế toán số (Digital Accounting).

Triển khai tài chính toàn diện

Tài chính toàn diện được coi là có vị trí rất quan trọng đối với sự phát triển bền vững của một quốc gia. Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, tiếp cận tài chính có ý nghĩa vô cùng lớn trong xóa đói giảm nghèo, phân phối thịnh vượng công bằng, hỗ trợ phát triển toàn diện và bền vững. Liên Hợp quốc cũng đã xác định tài chính toàn diện là một giải pháp quan trọng để đạt 7 trong 17 Mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030. Thực tiễn của hơn 80 quốc gia đang triển khai thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện đều cho thấy sự đóng góp đáng kể của tài chính toàn diện vào xóa đói giảm nghèo, giảm bất bình đẳng, tạo việc làm, tăng sinh kế cho người dân và doanh nghiệp, hỗ trợ ổn định tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách bền vững.

Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính phủ luôn nhất quán với quan điểm: không để ai bị bỏ lại phía sau, không để ai bị đặt ngoài lề của sự phát triển. Tăng trưởng nhanh gắn liền với phát triển bền vững, xây dựng “dân giàu, nước mạnh”, “mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” là mục tiêu tiên quyết của Việt Nam. Do đó, tại Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 22/7/2016 về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020, Chính phủ đã giao NHNN chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan triển khai xây dựng Chiến lược tổng thể quốc gia về tài chính toàn diện.

Ngày 22/1/2020, Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành theo Quyết định số 149/QĐ-TTg. Chiến lược đặt ra mục tiêu “Mọi người dân và doanh nghiệp đều được tiếp cận và sử dụng an toàn, thuận tiện các sản phẩm, dịch vụ tài chính phù hợp nhu cầu, với chi phí hợp lý, do các tổ chức được cấp phép cung ứng một cách có trách nhiệm và bền vững”. Để thực hiện được mục tiêu này, 6 nhóm nhiệm vụ và giải pháp được đặt ra, gồm: (i) Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu tài chính toàn diện; (ii) Phát triển đa dạng các tổ chức cung ứng, kênh phân phối hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ tài chính cơ bản một cách thuận tiện, chi phí hợp lý; (iii) Phát triển đa dạng các sản phẩm, dịch vụ tài chính cơ bản, hướng đến những đối tượng mục tiêu của tài chính toàn diện; (iv) Hoàn thiện và tăng hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng tài chính, tạo điều kiện giảm phí giao dịch, đáp ứng yêu cầu thúc đẩy tài chính toàn diện; (v) Giáo dục tài chính, nâng cao năng lực và kiến thức tài chính, bảo vệ người tiêu dùng tài chính; (vi) Các giải pháp hỗ trợ khác như: Lồng ghép các mục tiêu tài chính toàn diện trong quá trình thực hiện các chương trình xây dựng nông thôn mới, đào tạo nguồn nhân lực, hợp tác quốc tế về tài chính toàn diện, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về vai trò và ý nghĩa của tài chính toàn diện đến các cơ quan, tổ chức, người dân và doanh nghiệp.

Với những nỗ lực trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp tại Chiến lược, việc thực thi tài chính toàn diện tại Việt Nam đã đạt được một số kết quả tích cực như: Khung khổ pháp lý nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu tài chính toàn diện được tiếp tục hoàn thiện; Hệ thống mạng lưới tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính tiếp tục được phát triển; Các sản phẩm, phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục được phát triển, tăng trưởng cao cả về số lượng và giá trị giao dịch, chất lượng dịch vụ không ngừng được cải thiện; Thanh toán không dùng tiền mặt không ngừng được thúc đẩy và mở rộng với sự triển khai quyết liệt nhiều giải pháp của các bộ, ngành, địa phương, cơ quan liên quan; Tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn luôn có sự tăng trưởng; tín dụng chính sách xã hội được triển khai thường xuyên đến 100% xã, phường, thị trấn trên toàn quốc một cách hiệu quả, trong đó tập trung ưu tiên cho các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; Việc hoàn thiện cơ sở hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hạ tầng tài chính được các cơ quan chủ trì khẩn trương triển khai thực hiện; Việc tuyên truyền về các nội dung liên quan đến Chiến lược, các chương trình giáo dục tài chính đang được triển khai tích cực tại các bộ, ngành, địa phương, cơ quan có liên quan; Việc thúc đẩy hợp tác về tài chính toàn diện với các nước và tổ chức quốc tế đang được triển khai tích cực. Nhờ đó, mức độ tiếp cận dịch vụ tài chính - ngân hàng của người dân, doanh nghiệp đã có sự cải thiện đáng kể: Số lượng tài khoản ngân hàng, số máy ATM, số lượng chi nhánh, phòng giao dịch của NHTM/100.000 dân số trưởng thành tiếp tục có sự tăng trưởng; Thanh toán bằng QR Code đạt tốc độ tăng trưởng mạnh với hơn 90.000 điểm chấp nhận trên toàn quốc; Dư nợ tín dụng nông nghiệp, nông thôn và dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng trưởng qua các năm.

Có thể khẳng định, việc xác định các định hướng phát triển một cách rõ ràng, cụ thể, phù hợp với các xu thế biến đổi kinh tế - xã hội trong và ngoài nước, bám sát các quan điểm, đường lối chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước đã giúp ngành Ngân hàng đạt được những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ.

Tuy nhiên, thành công này mới chỉ là sự khởi đầu của một giai đoạn chiến lược phát triển mới đầy khát vọng của Việt Nam. Trước bối cảnh tình hình thế giới và trong nước tiếp tục có những thách thức, biến động khó lường, ngành Ngân hàng cần tiếp tục kiên định với các định hướng trọng tâm đã đặt ra; tích cực, chủ động, vượt qua mọi khó khăn để góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu “Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045”, khẳng định hơn nữa sứ mệnh và vai trò “huyết mạch” của Ngành đối với nền kinh tế.

PGS-TS. Nguyễn Kim Anh - Phó Thống đốc NHNN

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.950 23.160 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.965 23.165 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.950 23.160 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.160 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.963 23.175 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.960 23.160 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.160 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.480
55.850
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.480
55.830
Vàng SJC 5c
55.480
55.850
Vàng nhẫn 9999
51.900
52.500
Vàng nữ trang 9999
51.500
52.200