Tín hiệu tích cực từ xuất khẩu rau quả

09:28 | 12/04/2021

Theo ông Đặng Phúc Nguyên - Tổng Thư ký Hiệp hội rau quả Việt Nam (VinaFruit), thành tích xuất khẩu rau quả đầu năm 2021 đã cho thấy dấu hiệu tích cực về triển vọng xuất khẩu ngành hàng này trong năm nay cũng như nhiều năm tới. Tuy nhiên, vẫn cần giải quyết những vấn đề căn cơ của ngành rau quả để có thể phát triển lĩnh vực này xứng với tiềm năng.

Theo đánh giá của Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương), mặc dù đại dịch Covid-19 còn diễn biến phức tạp, tuy nhiên hoạt động xuất khẩu rau quả của Việt Nam vẫn diễn ra khá sôi động trong 3 tháng đầu năm 2021. Ước tính, xuất khẩu hàng rau đạt 944 triệu USD, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước.

Đáng chú ý, bên cạnh thị trường truyền thống Trung Quốc chiếm hơn 60% tổng trị giá xuất khẩu hàng rau quả của Việt Nam còn có một số thị trường “mới nổi” với kim ngạch nhập khẩu tăng cao như Hoa Kỳ, Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc…

tin hieu tich cuc tu xuat khau rau qua

Theo ông Đặng Phúc Nguyên, xuất khẩu rau quả quý I năm nay khởi sắc hơn so với năm ngoái, một phần cũng bởi nhiều nước đã bắt đầu chiến dịch tiêm vaccine phòng chống Covid-19, thông thương giữa các nước trong đó có Việt Nam đã cởi mở hơn. Dự báo kim ngạch xuất khẩu rau quả có thể tăng ở mức 10-15%.

Bên cạnh đó, việc tận dụng các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như EVFTA, CPTPP, RCEP… đang giúp mở đường cho các doanh nghiệp tăng kim ngạch xuất khẩu rau quả trong năm nay.

Đáng chú ý, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Vương quốc Anh (UKFTA) hứa hẹn sẽ tạo ra động lực mới cho xuất khẩu rau quả. Cụ thể, khi hiệp định có hiệu lực, hơn 94% trong tổng số 547 dòng thuế rau quả và các chế phẩm từ rau quả có mức thuế suất 0%. Do đó, nhiều sản phẩm là thế mạnh của Việt Nam như vải, nhãn, chôm chôm, thanh long, dứa, dưa… sẽ có thêm lợi thế tiếp cận thị trường mới giàu tiềm năng với nhiều ưu đãi.

Thực tế cho thấy, ngành rau quả của nước ta có rất nhiều tiềm năng để phát triển. Báo cáo của Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho thấy, năm 2020 sản xuất cây ăn quả cả nước có diện tích trên 1,1 triệu ha, tăng gần 100.000 ha so với năm 2019. Trong đó, vùng Nam bộ có tổng diện tích cây ăn quả trên 500.000 ha, bằng 44,6% diện tích cả nước.

Ông Đặng Phúc Nguyên cho biết, diện tích cây ăn quả của nước ta đang ngày càng được mở rộng, người dân cũng dần dịch chuyển từ các lĩnh vực khác sang trồng cây ăn quả. Bên cạnh đó, những phương thức trồng trọt, sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn của thế giới đã dần phổ biến hơn. Từ doanh nghiệp cho đến từng hộ nông dân đã nắm bắt được lối canh tác tiên tiến, đáp ứng an toàn vệ sinh thực phẩm theo nhu cầu của các thị trường quốc tế. Minh chứng là ngày càng có nhiều sản phẩm rau quả chất lượng của Việt Nam được ưa chuộng ở những thị trường khó tính.

Mặt khác, công nghệ chế biến cũng đang dần được nâng cao, các doanh nghiệp cũng đã đầu tư mạnh tay hơn. Nhiều doanh nghiệp đã có những dây chuyền sản xuất, máy móc hiện đại, thậm chí hợp tác với chuyên gia nước ngoài để họ tư vấn, hướng dẫn vận hành. Với tất cả những lợi thế đó, ngành rau quả nước ta đang có nhiều “cửa sáng” để phát triển.

Tuy nhiên, nhìn vào thực tế vẫn còn những vấn đề căn cơ của lĩnh vực này khiến nó chưa thực sự phát triển đúng với tiềm năng. Đơn cử như việc thiếu hụt nguyên liệu cho các nhà máy chế biến, bắt nguồn từ thực trạng chưa có nhiều “cánh đồng mẫu lớn”, chuyên canh cho rau quả. Công nghệ chế biến tuy đã có nhiều cải thiện nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của nhiều thị trường quốc tế. Một số doanh nghiệp thiếu vốn, thiếu nhân lực chất lượng cao để đầu tư, phát triển công nghệ mới.

Để giải quyết các vấn đề này, ông Nguyên cho rằng cần phát triển những phương thức canh tác mới, tập trung phát triển vùng nguyên liệu rau quả bằng cách đẩy mạnh quá trình tích tụ ruộng đất, nhà nước có thể cho người dân thuê đất để chuyên canh rau quả với chi phí thấp.

Điều quan trọng nhất đó là nâng cao chất lượng của rau quả, bảo quản tốt, quy cách đóng gói hiện đại. “Nhu cầu về rau quả của thế giới sẽ ngày càng tăng cao vì thế tiềm năng thị trường xuất khẩu là rất lớn. Trong thời gian tới cần nâng cao chất lượng của rau quả, bởi lẽ chất lượng càng cao thì giá bán cũng tăng theo. Bài học từ hạt gạo đã cho thấy rõ điều này”’, ông Nguyên nhấn mạnh.

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án phát triển ngành chế biến rau quả giai đoạn 2021-2030, với mục tiêu đến năm 2030 giá trị kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt 8-10 tỷ USD. Mặt khác, đề án cũng nhắm đếm mục tiêu đến năm 2030 thu hút đầu tư mới 50-60 cơ sở chế biến rau quả có quy mô lớn và vừa; xây dựng, phát triển thành công một số tập đoàn, DN chế biến rau quả hiện đại ngang tầm khu vực, thế giới với khả năng cạnh tranh quốc tế cao. Theo các chuyên gia, mục tiêu này hoàn toàn trong tầm với nếu có thể xây dựng những giải pháp thích hợp cho ngành rau quả.

Hạ Chi

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.860 23.090 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.890 23.090 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.870 23.090 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.855 23.045 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.880 23.060 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.890 23.070 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.870 23.082 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.831 23.051 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.870 23.050 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.890 23.050 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.150
56.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.150
56.750
Vàng SJC 5c
56.150
56.770
Vàng nhẫn 9999
51.550
52.150
Vàng nữ trang 9999
51.150
51.850