TP.HCM: Bất động sản bán lẻ và văn phòng diễn biến tích cực

11:23 | 09/01/2019

Savills Việt Nam vừa công bố báo cáo tổng quan thị trường bất động sản TP.HCM quý IV/2018, cho thấy thị trường bất động sản bán lẻ và văn phòng diễn biến tích cực.

Bán lẻ vẫn tốt

Theo Savills Việt Nam, trong quý IV/2018 vừa qua, hai trung tâm thương mại và một khối đế bán lẻ được khai trương, đồng thời có bốn dự án thay đổi định dạng bán lẻ hoặc đóng cửa. Nguồn cung quý vừa qua tăng 28.000 m2. Tổng diện tích bán lẻ đạt xấp xỉ 1,3 triệu m2, tăng 9% theo năm. Thị trường hoạt động tốt dù có nguồn cung mới.

Giá thuê trung bình tăng 2% theo quý và 1% theo năm, trong khi công suất tiếp tục cải thiện với 4 điểm phần trăm theo quý và 3 điểm phần trăm theo năm. Doanh thu bán lẻ tăng mạnh 13% theo năm, tập trung vào F&B (ăn uống), quần áo và vật dụng gia đình.

Trong năm 2019, nguồn cung mới ở khu trung tâm chỉ khoảng 31.700 m2; các quận ngoài trung tâm dự kiến chịu áp lực lớn từ nguồn cung mới xấp xỉ 215.000 m2.

Văn phòng tốt nhất 5 năm

Trong quý IV/2018, thị trường bất động sản văn phòng không ghi nhận dự án mới nhưng nguồn cung tăng thêm 8.400 m2 tại tòa nhà Cộng Hòa Garden. Tổng nguồn cung toàn thi trường đạt 1,8 triệu m2 , gần như ổn định theo quý và tăng 7% theo năm.

“Thị trường hoạt động tốt nhất trong 5 năm trở lại đây với giá thuê trung bình tăng 1% theo quý và 8% theo năm bởi tỷ lệ sàn trống thấp xảy ra tại cả 3 hạng. Công suất trung bình vẫn ở mức cao, đạt 97%, ổn định theo quý và tăng 1 điểm phần trăm theo năm. Tới 2021, hơn 634.000 m2 diện tích văn phòng sẽ gia nhập thị trường”, đại diện Savills Việt Nam chia sẻ.

Nguồn cung biệt thự và nhà liền kề hạn chế

Savills Việt Nam cho hay, thị trường biệt thự và nhà liền kề có thêm 5 dự án cỡ nhỏ mới cung cấp cho thị trường 390 căn. Nguồn cung sơ cấp đạt hơn 1.280 căn, tăng 5% theo quý nhưng giảm 37% theo năm. Lượng giao dịch tăng 64% theo quý nhưng giảm 57% theo năm do nguồn cung hạn chế. Quận Gò Vấp dẫn đầu thị trường với 33% tổng giao dịch.

Nguồn cung đất nền sơ cấp đạt hơn 1.970 nền trong quý. Phân khúc thị trường này đạt tỷ lệ tiêu thụ cao ở mức 77%. Từ năm 2019-2021, 22.650 căn/nền sẽ được cung cấp cho thị trường. Các quận ngoại thành như Quận 9, Bình Tân và Bình Chánh sẽ đóng góp 56% cho nguồn cung tương lai.

Hải Yến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.960 23.170 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.980 23.180 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.970 23.180 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.150 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.973 23.185 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.969 23.169 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.980 23.160 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.000 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.460
55.850
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.460
55.830
Vàng SJC 5c
55.460
55.830
Vàng nhẫn 9999
52.730
53.330
Vàng nữ trang 9999
52.330
53.030